
Tủ Sách Huyền Môn - Ai Cập Huyền Bí
Tác giả quyển "Đông Phương huyền bí", ông Paul Brunton đã cho chúng ta thấy những khía cạnh ẩn giấu của đời sống tâm linh Ấn Độ, với những vị đạo sĩ chân tu và những đền đài cổ kính từ nghìn xưa vẫn tiêu biểu cho cái quốc hồn quốc tuý của xứ ấy. Trong chuyến du hành của ông sang xứ này, một người bản xứ có nói với ông rằng, ở xứ Ai Cập ngày nay thật khó mà khám phá được một vài di tích của sự sinh hoạt tâm linh huyền bí và khoa Huyền môn thâm sâu kỳ diệu của thời cổ xưa. Trong chuyến du hành sang Ai Cập, tác giả đã dày công thâu thập được nhiều kinh nghiệm huyền linh và thần bí. Ngoài ra tác giả còn trình bày những khía cạnh bí ẩn khác của xứ Ai Cập mà ngày nay ít người được biết đến và mô tả lại những cuộc điểm đạo trong các đền thờ, cùng khoa Huyền môn của một xứ sở có nền văn minh gần như cổ xưa nhất thế giới.

The Joy Of Living - Sống Một Đời Vui
Ngay từ thuở lập giáo, đức Phật đã dạy rằng: “Tất cả những gì được kết hợp mà thành đều là vô thường.” Trong tâm mỗi người đều có một cánh cửa sổ, qua cánh cửa sổ ấy, những gì chúng ta trông thấy và cảm giác được đều không giống nhau. Điều quan trọng là khi chúng ta đối mặt với những sự vật, hình tướng của ngoại giới, chúng ta có thể nhận thức được sự vô thường của mọi hiện tượng không? [Nếu] thường xuyên tu tập quán niệm, chúng ta sẽ biết phân biệt và chọn lựa cách nào để thân tâm được hạnh phúc và an lạc. Trong cuốn sách này, Ngài Mingyur Rinpoche đã dùng từ bi lẫn trí tuệ kết hợp các kinh nghiệm thực chứng của giáo pháp Phật-đà và phương pháp khoa học hiện đại để chỉ dẫn một con đường tu hành, thật là một bậc thầy biết “khai quật kho tàng tâm linh”.
- Trích lời giới thiệu của Đức Karmapa (Đại Bảo Pháp Vương) đời thứ 17.

Kinh Mi Tiên Vấn Đáp
Bộ kinh Milindapãnha được Phật giáo Miến Điện xếp vào Thánh điển, và Phật giáo Tích Lan đặt chung với năm bộ Nihàya để tôn thờ và phụng hành. Nội dung của bộ kinh kể lại những câu hỏi, đáp giữa vua Minida và tỳ kheo Nàgasena. Những câu hỏi thì đa trí, sắc bén mà lời giải đáp lại thâm sâu, quảng kiến, lợi tuệ; nhiều khi chỉ là những ví dụ cụ thể, bình dân, giản dị, rất bổ ích cho các nhà học giả, người nghiên cứu, kẻ đa nghi cũng như sự học Phật của các hàng hậu tấn.
Bộ Kinh Mi Tiên Vấn Đáp được giới thiệu với bạn đọc nhằm phổ biến một tư liệu quý hiếm rất gần với giáo pháp uyên nguyên; giải đáp, tháo gỡ những thắc mắc cho kẻ hoài nghi để phá bỏ sở tri chướng cho người tu Phật. Chỉ chừng ấy thôi thì công năng hiệu dụng của “Mi-tiên-vấn-đáp” thật là bất khả tư nghì rồi.

Ba Điểm Tinh Yếu Trên Đường Tu Tập
Tập sách này là bản Việt dịch từ một bài giảng của Đức Đạt-lai Lạt-ma XIV, được ngài Rajiv Mehrotra - đệ tử của Đức Đạt-lai Lạt-ma - trực tiếp ban cho cùng với 5 bài giảng nữa, kèm theo một văn bản cho phép chuyển dịch tất cả sang Việt ngữ và phát hành ở dạng song ngữ Anh - Việt. Ba Điểm Tinh Yếu Trên Đường Tu Tập là bài giảng giải chi tiết về ý nghĩa một bài kệ rất nổi tiếng của đại sư Tongskhapa.
Mặc dù đây là một phần giáo pháp rất uyên ảo, không dễ nắm hiểu, nhưng Đức Đạt-lai Lạt-ma đã hết sức khéo léo trong sự trình bày mạch lạc và luận giải chặt chẽ, khiến cho người đọc có thể nắm hiểu được từng vấn đề theo một trình tự tiến dần lên. Qua đó những phần tinh yếu của giáo phái được giảng rõ và người đọc có được cơ hội để học hỏi bài kệ của ngài Tongskhapa một cách dễ dàng hơn rất nhiều so với khi chỉ đọc nguyên bản. Ngoài ra, việc trình bày song ngữ Anh-Việt cũng là một lợi thế rất lớn cho các độc giả sử dụng được tiếng Anh, vì có thể đối chiếu ngay từng câu văn, đoạn văn của nguyên tác.

Lược Sử Phật Giáo - A Short History Of Buddhism
Đây là một tác phẩm biên khảo ra đời khá sớm của cố học giả người Đức Edward Conze. Mặc dù vậy, cho đến nay tập sách vẫn giữ được nhiều tính chất đặc biệt mà các tác phẩm ra đời về sau này chưa thể vượt qua được. Một trong các đặc điểm đó chính là tính khái quát và khách quan của người biên soạn. Mặc dù bản thân là một Phật tử, Conze vẫn luôn giữ được khoảng cách khách quan cần thiết khi trình bày các vấn đề về lịch sử Phật giáo. Hơn thế nữa, ngay khi đề cập đến các bộ phái khác nhau, ông cũng không bao giờ để cho ngòi bút của mình nghiêng về theo những khuynh hướng tư tưởng mà mình đã chọn. Và đây chính là yếu tố đã tạo được sự tin cậy cần thiết cho một tác phẩm có tính cách sử học như thế này.

Nghi Thức Cầu An - Cầu Siêu - Sám Hối - Cúng Ngọ
Đây là bản kinh thông dụng, phổ biến đối với hết thảy thảy Phật tử, dù theo tông phái nào. Kinh được thường xuyên trì tụng trong mùa Vu Lan tháng Bảy, bao gồm 2 kinh ngắn đều được dịch sang thể thơ kệ, dễ nhớ, dễ đọc tụng.
Bản kinh thứ nhất là kinh Vu Lan Bồn, ghi lại câu chuyện báo hiếu của ngài Mục Kiền Liên và lời dạy của Phật để hàng Phật tử sau này thực hành Vu Lan Pháp hội.
Bản kinh thứ hai là Kinh Báo đáp công ơn cha mẹ, ghi lại lời dạy của đức Phật về công ơn sâu nặng của cha mẹ và bổn phận hiếu hạnh, đạo làm con. Những ý nghĩa thâm sâu được diễn đạt chi tiết qua các vần thơ kệ rất dễ đi vào lòng người, khiến cho những người con hiếu khi nghe qua không thể không xúc động.

Kinh Lăng Nghiêm Tông Thông
Đây là bộ sách giảng giải chi tiết về ý nghĩa kinh Lăng Nghiêm, một bộ kinh quan trọng của Phật giáo Đại thừa. Sách phân ra 10 quyển, trình tự giảng giải mạch lạc và chi tiết, rất cần thiết cho người muốn nghiên cứu sâu vào ý nghĩa của bộ kinh này. Sự giảng giải trong sách này thật ra là sự góp nhặt từ các luận giảng, ngữ lục từ xưa nay liên quan đến kinh này. Chính vì thế, người đọc có thể yên tâm vì tránh được những luận giải chủ quan theo tư kiến của người biên soạn.

Tủ Sách Huyền Môn - Đông Phương Huyền Bí
Trong Thánh kinh có câu: “Ngươi hãy gõ cửa, rồi cửa sẽ mở; ngươi hãy tìm, rồi ngươi sẽ gặp.” Đối với những ai là người có đủ sự kiên gan bền chí, tìm kiếm với hết cả tâm hồn, với một ý chí mãnh liệt, thì tấm màn bí mật kia có ngày cũng sẽ từ từ vén lên.
Ông Paul Brunton, tác giả quyển sách này, là người có cái ý chí đó. Nhưng trước khi đạt được mục đích, ông đã phải trải qua những sự khó khăn không biết là dường nào! Vì ở Ấn Độ cũng như ở các xứ khác, người ta chỉ tìm thấy sự chân thật sau khi đã gạn lọc, chiến đấu và loại bỏ những gì là hư dối bên ngoài. Người đi tầm đạo phải tự vạch lấy một con đường sau khi đã gặp phải rất nhiều những tay pháp sư, phù thuỷ, đạo sĩ, thuật sĩ… đủ hạng và mọi trình độ.

Cẩm Nang Nhập Thất
Quyển sách này là một cẩm nang tu tập cho những ai muốn tìm cầu và đi theo con đường giải thoát của đức Phật, đặc biệt là những người có duyên với Phật giáo Tây Tạng, bởi đây là tác phẩm được truyền lại của Đại sư Tây Tạng Gampopa.
Sách được chuyển dịch từ Tạng ngữ sang Anh ngữ, sau đó được chuyển dịch từ Anh ngữ sang Việt ngữ. Sách trình bày một cách hệ thống toàn bộ con đường tu tập từ lúc khởi tâm cho đến các giai đoạn dấn bước hành trì, bao gồm những điểm cốt yếu của từng giai đoạn, lợi ích cũng như phương thức cần nắm vững để có thể tu tập hành trì một cách chân chánh và hiệu quả.

Tự Lực Và Tha Lực Trong Phật Giáo
Tự lực và tha lực là những khái niệm được đề cập rất nhiều trong Phật giáo. Hai khái niệm này bao trùm mọi tiến trình tu tập của một cá nhân và cũng quyết định pháp môn tu tập mà người ấy chọn. Nhìn một cách khái quát, có vẻ như các pháp môn trong Phật giáo thường nghiêng về một trong hai khuynh hướng, hoặc nhấn mạnh vào tự lực, hoặc nhấn mạnh vào tha lực. Tuy nhiên, ở mức độ thực hành giáo pháp một cách sâu xa hơn, chúng ta sẽ nhận ra rằng cả hai khuynh hướng này đều đồng thời hiện hữu trong mọi tiến trình tu tập của người Phật tử. Tập sách này sẽ mang đến cho độc giả một cái nhìn khái quát về vấn đề tự lực và tha lực trong Phật giáo, được nhìn từ góc độ tu tập của người Phật tử.

Kinh Dược Sư - Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức - Âm-Nghĩa
Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, nghĩa là vị Phật này lấy hiệu là thầy thuốc để thể hiện lòng thương xót bằng từ tâm của vị Phật đến chúng sanh còn đau khổ, luôn lấy pháp dược để cứu mọi khổ đau của chúng sanh đang gánh chịu trong sự luân hồi.
Bằng thiên nhãn thông, Đức Phật nói rằng cách đây hơn mười căn dà sa có một cõi nước tên là Tịnh Lưu Ly, nơi đó Đức Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai là giáo chủ. “Căn dà sa” nghĩa là hằng hà sa (cát sông Hằng), ngụ ý nói rằng cõi Phật này xa vô tận.
Khi trì tụng kinh Dược Sư chúng ta kiên trì, siêng năng và phải có niềm tin vào Tam Bảo để giữ trọn lòng mình, tự hóa giải được nghiệp chướng, đau khổ của bản thân.

Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa - Âm-Nghĩa
Kinh Đại thừa Vô lượng nghĩa là một trong các kinh điển Đại thừa được nhiều người biết đến. Bản Việt dịch lần này được bổ sung rất nhiều chú giải để giúp người đọc dễ dàng tiếp nhận ý nghĩa kinh văn. Kinh được in trên giấy trắng tốt, khổ lớn, chữ to, rất thích hợp cho việc tụng đọc thường xuyên hằng ngày. Trong kinh Đại thừa Vô lượng nghĩa này, Đức Phật nêu tóm lược ý nghĩa thật tướng của các pháp. Do quán chiếu thấy được thật tướng của các pháp vốn không bền chắc, sanh trụ dị diệt thường luôn biến hoại, tất cả các tướng đều quy về một tướng, tức là vô tướng; lại thấy tất cả các pháp xấu ác khởi lên nơi chúng sinh đều do tham dục, Bồ Tát thấu suốt rồi liền khởi tâm từ bi muốn cứu khổ ban vui cho tất cả chúng sinh.

Rộng Mở Tâm Hồn Và Phát Triển Trí Tuệ
Tập sách này đặc biệt được viết ra bởi một vị Ni sư người Mỹ tu tập theo truyền thống Phật giáo Tây Tạng. Bà sinh ra và lớn lên ở vùng Los Angeles, tốt nghiệp Đại học California chuyên ngành Sử học vào năm 1971 và đã từng đi khắp nhiều nơi trên thế giới như châu Âu, Bắc Phi, châu Á... Năm 1975, bà tiếp cận với Phật giáo qua một khóa thiền tập do Lama Yeshe và Zopa Rinpoche hướng dẫn. Ngay sau đó, bà đi Nepal để tiếp tục tu tập và xuất gia vào năm 1977. Năm 1986, bà thọ Cụ túc giới và trở thành một vị tỳ-kheo ni, tu tập theo truyền thống Phật giáo Tây Tạng với nhiều bậc thầy Tây Tạng, trong đó có cả Đức Đạt-lai Lạt-ma Đời thứ XIV.

Thiếu Thất Lục Môn - Yếu Chỉ Thiền Đạt-Ma
Thiếu Thất lục môn có thể xem là một trong số rất ít các bộ “sách giáo” khoa chính thức được giảng dạy của Thiền tông, và được tin là do chính Tổ sư Bồ-đề Đạt-ma truyền dạy. Vì thế, từ trước đến nay đây vẫn là nguồn tư liệu tham khảo đáng tin cậy cho bất cứ ai quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu về Thiền học. Hơn thế nữa, Thiếu Thất lục môn cũng chính là các pháp môn được chỉ dạy cho người tu tập theo Thiền tông, vì thế mà nội dung sách được xem như đã bao trùm hầu hết mọi vấn đề cốt lõi, tinh yếu của tông phái này

Kinh Bi Hoa
Kinh Bi Hoa là một trong những bản kinh được rất nhiều người biết đến, nhưng lại ít ai có duyên may được đọc trọn bộ kinh.
Kinh Bi Hoa trình bày rất rõ tinh thần Đại thừa qua việc phát tâm Bồ-đề và tinh thần đại bi, vì lợi ích và sự thành tựu của tất cả chúng sinh. Qua việc kể lại công hạnh của các vị Bồ Tát, kinh văn làm tỏa sáng tinh thần vị tha thuần khiết và tuyệt đối như một nền tảng chắc chắn cho sự thành tựu quả vị giác ngộ mà mục đích hướng đến cũng không gì khác hơn là giải thoát tất cả chúng sinh khỏi biển khổ luân hồi.
Lần đầu tiên được chuyển dịch trọn vẹn và trình bày với nguyên bản Hán văn, đây có thể xem là một tư liệu hiếm quý trong kho tàng kinh điển, giúp người đọc có thể tiếp cận trực tiếp với tinh thần Đại thừa qua kinh văn.

Chư Kinh Tập Yếu
Bộ sách này được Cố học giả Đoàn Trung Còn khởi sự biên soạn từ cách đây hơn nửa thế kỷ, bao gồm những bản kinh tụng thông dụng hằng ngày cũng như có nội dung thiết yếu đối với người tu tập Phật pháp. Trong lần xuất bản này, toàn bộ các bản kinh đều đã được đối chiếu nguyên bản để chuyển dịch lại, bổ sung thêm phần chú giải chi tiết và đầy đủ hơn, đồng thời in kèm với nguyên bản Hán văn để giúp người dùng thuận tiện trong việc tra cứu hoặc tham khảo đối chiếu. Các bản kinh được chọn đưa vào là kinh Phổ môn, kinh A-di-đà, kinh Dược sư, kinh Đại thừa Vô lượng nghĩa, kinh Kim cang, kinh Tứ thập nhị chương và kinh Di giáo.

Kinh Ngũ Bách Danh
Kinh này là một nghi thức lễ lạy bao gồm 500 danh hiệu khác nhau của đức Bồ Tát Quán Thế Âm, thể hiện sự phương tiện cứu độ của ngài đối với chúng sinh khổ đau trong mọi hoàn cảnh. Nghi thức lễ lạy này có thể được áp dụng trong việc cầu an hay sám hối, tùy tâm nguyện của người hành trì.
Bản văn này được biên soạn với đầy đủ các phần nghi thức khai kinh cũng như phục nguyện, hồi hướng, bao gồm cả nhiều bài tụng tán, rất thích hợp và tiện dụng cho sự hành trì của Phật tử tại gia cũng như trong các tự viện.

Tủ Sách Huyền Môn - Tây Phương Huyền Bí
Đây là một quyển sách khá độc đáo vì nó lấy bối cảnh phương Tây nhưng những sự kiện lại mang đậm sắc thái của phương Đông. Trong thực tế, những gì liên quan đến đời sống tâm linh con người chắc chắn không hề có sự phân biệt giữa phương Đông hay phương Tây. Được xây dựng với rất nhiều tình tiết ly kỳ, hấp dẫn, cuốn sách chắc chắn sẽ mang đến cho bạn đọc những giây phút thú vịvà không khỏi bị cuốn hút vào thế giới của các nhân vật - một Tây phương huyền bí.
Trong sách này, thuật luyện kim được dùng để chỉ đến một khoa học huyền bí cổ xưa, theo đó người ta tin rằng có thể biến các kim loại khác thành ra vàng; và các nhà luyện kim xưa kia là những người tu luyện các chú thuật, phù phép để có thể làm được việc đó.

Nghi Thức Trì Tụng Đại Bi - Lễ Bái 12 Lời Nguyện Của Đức Quan Thế Âm
Nghi thức Trì chú Đại Bi có trọng tâm là làm phát triển tâm từ bi qua trì niệm thần chú. Về bản chất, từ bi là một năng lượng có khả năng cứu khổ, ban vui. Tụng trì chú Đại Bi là để thực tập, nuôi dưỡng, phát triển và thành tựu năng lượng từ bi đó. Từ bi có 3 phương diện:
1. Ý niệm từ bi, tức phát khởi tâm thương xót và muốn cứu độ các đối tượng khổ đau,.
2. Thể hiện lời nói từ bi cụ thể trong tư vấn, hướng dẫn, chỉ đạo và truyền thông, giúp người khổ đau hiểu được con đường thoát khổ.
3. Hành động từ bi cụ thể bao gồm sự đồng hành, giúp đỡ, nhập thế phụng sự người khổ đau nhờ đó các bất hạnh được chuyển hóa, cuộc sống được bình an. Nói cách khác, thực hành từ bi là đưa Phật giáo vào cuộc sống, xóa đi nỗi khổ niềm đau của con người.

Kinh Thánh - Cựu Ước Và Tân Ước
Trên thế giới, Kinh Thánh thường được mặc nhiên thừa nhận là “sách bán chạy nhất mọi thời đại” và xứng đáng là sách nên có trong tủ sách của mỗi cá nhân và gia đình.
Là một nguồn mạch lớn của văn chương thế giới, Kinh Thánh truyền cảm hứng cho vô số tác phẩm văn học trên khắp thế giới qua các câu chuyện kinh điển như: chuyện A-đam và Ê-va ăn “trái cấm”; chuyện chiếc tàu Nô-ê; chuyện chàng chăn cừu Đa-vít và gã khổng lồ Gô-li-át…
Đối với người Cơ Đốc, Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời — Ngài có quyền năng đem lại sự sống, sự khôn ngoan, bình an, và hy vọng cho những ai hết lòng tìm kiếm lẽ thật.
Bản dịch Kinh Thánh 1925 đã chuyển tải thành công một tác phẩm kinh điển của nhân loại bằng một thứ tiếng Việt rất đẹp và trong sáng của thập niên 1920. Đây là kết tinh trí tuệ của một tập thể bao gồm các nho sĩ Tin Lành Việt Nam, các học giả người Việt cấp tiến, và các giáo sĩ ngoại quốc yêu mến Việt Nam.
Kinh Thánh tiếng Anh bản King James là một trong những bản dịch Kinh Thánh tiếng Anh được sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới hiện nay. Ngôn từ trang trọng và nhịp điệu văn xuôi của bản King James đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của văn học và ngôn ngữ Anh trong vòng 400 năm qua.

Kinh Thánh - Cựu Ước Và Tân Ước
Trên thế giới, Kinh Thánh thường được mặc nhiên thừa nhận là “sách bán chạy nhất mọi thời đại” và xứng đáng là sách nên có trong tủ sách của mỗi cá nhân và gia đình.
Là một nguồn mạch lớn của văn chương thế giới, Kinh Thánh truyền cảm hứng cho vô số tác phẩm văn học trên khắp thế giới qua các câu chuyện kinh điển như: chuyện A-đam và Ê-va ăn “trái cấm”; chuyện chiếc tàu Nô-ê; chuyện chàng chăn cừu Đa-vít và gã khổng lồ Gô-li-át…
Đối với người Cơ Đốc, Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời — Ngài có quyền năng đem lại sự sống, sự khôn ngoan, bình an, và hy vọng cho những ai hết lòng tìm kiếm lẽ thật.
Bản dịch Kinh Thánh 1925 đã chuyển tải thành công một tác phẩm kinh điển của nhân loại bằng một thứ tiếng Việt rất đẹp và trong sáng của thập niên 1920. Đây là kết tinh trí tuệ của một tập thể bao gồm các nho sĩ Tin Lành Việt Nam, các học giả người Việt cấp tiến, và các giáo sĩ ngoại quốc yêu mến Việt Nam.
Kinh Thánh tiếng Anh bản King James là một trong những bản dịch Kinh Thánh tiếng Anh được sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới hiện nay. Ngôn từ trang trọng và nhịp điệu văn xuôi của bản King James đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của văn học và ngôn ngữ Anh trong vòng 400 năm qua.

Kinh Thánh Bản Dịch Mới (Bìa Da)
Cảm tạ Đức Chúa Trời, bản dịch mới Kinh Thánh đã hoàn tất. Bản dịch mới được một ủy ban gồm các mục sư Việt Nam được huấn luyện về Hy-bá và Hy-lạp phiên dịch. Chương trình phiên dịch được thành tựu là nhờ vào nhiều công lao, khó nhọc và nhiều lời cầu nguyện của rất nhiều con dân Chúa khắp thế giới. Ủy ban phiên dịch và những người duyệt lãm đã hoàn thành một bản dịch Kinh Thánh chính xác và dễ hiểu bằng ngôn ngữ Việt hiện đại.
Công việc phiên dịch bắt đầu từ năm 1987 với một ủy ban phiên dịch gồm những mục sư của nhiều giáo phái khác nhau như Báp-tít, Phước Âm Liên Hiệp, Mê-nô-nai, Giám Lý, Trưởng Lão v.v. Bản dịch được chuyển ngữ sát ý nghĩa theo nguyên tác Hy-bá và Hy-lạp nhưng cũng dễ đọc và dễ hiểu. Đức Chúa Trời đã chuẩn bị nhiều người từ nhiều địa phương khác nhau đã giúp đọc thử bản dịch này. Bản dịch đã được đọc thử tại Việt Nam, Đông Âu, Hoa Kỳ, do tín hữu lẫn người ngoại đạo, mục sư, tín hữu, người trí thức, bình dân, già, trẻ, đàn ông, đàn bà và thanh thiếu niên nam nữ. Cuộc thử nghiệm cho thấy bản dịch mới đã đáp ứng đúng nhu cầu của nhiều tầng lớp giữa người Việt Nam.
Sau khi phiên dịch, mỗi sách được một chủ bút, một ủy ban và chủ biên duyệt lãm và sửa chữa với sự góp ý của dịch giả. Bản dịch cũng đã được một số tôi tớ Chúa và tín hữu duyệt lãm tại Việt Nam để bảo đảm bản dịch thích hợp với hội thánh và người đọc tại Việt Nam.
Ủy Ban Phiên Dịch tin quyết rằng Kinh Thánh là Lời Đức Chúa Trời và cố gắng chuyển ngữ chính xác để bảo tồn thẩm quyền và ý nghĩa của Lời Chúa. Chúng tôi tin rằng Lời Chúa chứa đựng những câu giải đáp thiêng liêng cho những nhu cầu tâm linh của người Việt chúng ta. Kinh Thánh có thể đem lại ánh sáng khải thị của Chúa Cứu Thế cho những người đang sống trong bóng tối, và có thể đem lại sự sống vĩnh phúc cho những người hư mất. Chúng tôi tin rằng bản dịch mới sẽ là bản Kinh Thánh được tín hữu và hội thánh Việt Nam khắp nơi sử dụng để giảng, dạy và đào luyện môn đệ cho Chúa Cứu Thế.
Chúng tôi mong rằng lòng quí vị sẽ tràn ngập niềm vui khi quí vị đọc, nghiên cứu, ghi nhớ Lời Hằng Sống của Chúa.

Cuộc Đời Đức Phật Thích Ca
Trong hành trình khám phá thế giới và xây dựng nhân cách, việc lựa chọn những cuốn sách ý nghĩa là một phần quan trọng giúp trẻ em phát triển toàn diện. Một trong những cuốn sách không thể bỏ qua là “Cuộc Đời Đức Phật Thích Ca.” Cuốn sách này không chỉ mở ra một cánh cửa mới về Phật giáo mà còn mang đến cho các bé nhiều bài học quý giá về cuộc sống.
Khi đọc “Cuộc Đời Đức Phật Thích Ca,” các bé sẽ được tiếp cận với những bài học sâu sắc về lòng kiên nhẫn và sự kiên trì. Những câu chuyện về Đức Phật không chỉ đơn thuần là những sự kiện lịch sử, mà còn là những bài học về việc tìm kiếm chân lý và sống một cuộc đời có ý nghĩa. Cuốn sách giúp trẻ hiểu rõ hơn về giá trị của lòng khoan dung, lòng nhân ái và sự kiên nhẫn trong cuộc sống hàng ngày.
Không chỉ là một nguồn kiến thức phong phú về Phật giáo, cuốn sách còn truyền cảm hứng để các bé sống tốt hơn, biết yêu thương và sẻ chia với mọi người xung quanh. Các giá trị nhân văn mà cuốn sách mang lại giúp trẻ phát triển tư duy logic và khả năng cảm thông, từ đó xây dựng nền tảng vững chắc cho sự phát triển toàn diện.
Hãy để cuốn sách này đồng hành cùng các bé trên hành trình trưởng thành và khám phá bản thân.

Giáo Hoàng Phanxicô - Linh Mục Marco Pozza Credo Tôi Tin
Tôi muốn thực hiện cuộc phỏng vấn thứ ba này với cha Marco Pozzo, sau cuộc phỏng vấn về Kinh Lạy Cha và Kinh Kính Mừng. Tuy nhiên, tôi không muốn trình bày từng điểm một về nội dung đức tin. Thay vào đó, tôi thích chia sẻ những ý nghĩa thông thường, mang tính hiện sinh, đơn giản nhưng sâu sắc về việc chúng ta là con cái Thiên Chúa –được mời dự tiệc tình yêu với chính Thiên Chúa Ba Ngôi– và về tình bạn với anh chị em trong đức tin và với toàn thể nhân loại. Quả thật, trong khi đọc Kinh Tin Kính, chúng ta nhận biết Thiên Chúa trong chân lý của Người, nhưng đồng thời chúng ta cũng nói về mình, chúng ta tuyên xưng những gì Thiên Chúa đã làm cho mỗi người và cho tất cả chúng ta: trong khi tuyên xưng đức tin, chúng ta tái khám phá mình được quan phòng yêu thương và được cứu độ, chúng ta bị nỗi cô đơn và sự phân tán đẩy đi tứ phía, nhưng rồi lại được dẫn đưa về với sự hiệp nhất của thân thể Đức Kitô trong Hội Thánh là mẹ.

Giáo Hội Mà Tôi Mong Đợi - Suy Tư Của Đức Giáo Hoàng Phanxicô
Kể từ ngày 19 tháng 9 năm 2013, ngày mà cuộc phỏng vấn của Giáo hoàng Phanxicô được đăng trên tờ La Civiltà Cattolica với mười lăm nguyệt san của dòng Tên, xuất bản từ mười lăm nước khác nhau, có thể nói cuộc sống của tôi hầu như thay đổi. Không kể những ồn ào từ giới truyền thông, tôi chỉ muốn lưu ý một sự việc: tôi đã nhận được cả ngàn phản hồi dưới nhiều thể loại như email, thư twitter, các cuộc điện thoại, các tin nhắn, thư từ gởi về từ Facebook – xuất phát từ những người bình dân trên toàn thế giới, chứ không riêng từ những bạn bè của tôi. Họ đã kể cho tôi nghe, qua những dòng thư rất dài, về những phản ứng của họ…
Qua thư từ, có nhiều người đã nói lên cảm xúc của họ: một số người đã bỏ Giáo hội từ nhiều năm nay, một số khác đã rời bỏ chức linh mục của mình, một vài người theo thuyết bất khả tri, giờ đây lại ước muốn đọc Phúc âm sau khi đã đọc bài phỏng vấn. Không một người nào lo ngại về những “ý tưởng cởi mở” của Đức Thánh Cha. Trái lại, một số người đã biểu lộ lòng biết ơn về những lời nói đầy năng lực mà Đức Giáo hoàng dành cho họ. Tôi cũng đã nhận được nhiều lá thư của những người đau khổ và thoáng thấy được những lý do để hy vọng. Khi một nhà báo nói về cuộc phỏng vấn này như một câu chuyện đặc biệt diệu kỳ, tôi cảm thấy như phải trả lời cho người ta ngay rằng: “Không! Điều này đã và đang là một kinh nghiệm thiêng liêng lớn lao”.
Nói chuyện trực tiếp với Đức Giáo hoàng Phanxicô thật sự là một kinh nghiệm thiêng liêng. Ở cạnh ngài trong thời gian khá lâu đã cho tôi một cảm nghĩ cũng như nhận thức được một con người sâu sắc đắm chìm trong Chúa. Một trong những người bạn của ngài là Luis Palau, vị lãnh đạo thế giới khá tiếng tăm của những tín hữu Phúc âm, đã có một lần nói: “Khi anh ở với Hồng y Bergoglio, anh có cảm tưởng rằng ngài biết rất tường tận về Thiên Chúa Cha”. Và đúng như vậy, trước mặt ngài, người ta có cảm tưởng ngài là một con người tự do, một sự tự do thiêng liêng, hoàn toàn dấn thân trong cuộc sống, trong sự năng động và trong những tình cảm trìu mến. Ngài là một con người thoải mái, rõ ràng…

Bộ Sách Nhập Môn Kim Cương Thừa - Tập 1 + 2 (Bộ 2 Cuốn)
Phật giáo như một hệ thống triết học và tâm linh lâu đời, đã đồng hành cùng nhân loại qua hàng thiên niên kỷ, mang lại ánh sáng của giác ngộ, sự an lạc nội tâm và con đường vượt thoát khổ đau. Trong ba nhánh lớn của Phật giáo, Kim Cương thừa (hay còn gọi là Phật giáo Tây Tạng) tỏa sáng như một con đường tinh tế, mạnh mẽ và độc đáo, mang đến những phương pháp tu tập thiện xảo, giúp hành giả đạt được giác ngộ viên mãn ngay trong một đời.
Giới thiệu về Kim Cương thừa
Giáo pháp của Đức Phật được triển khai qua 84.000 pháp môn, đáp ứng sự đa dạng về căn cơ và tâm tính của chúng sinh. Thế nên, trước khi bước vào thực hành bất kỳ pháp môn nào, hành giả cần hiểu rõ bản chất con đường, phương pháp thực hành và giá trị cốt lõi mà pháp môn đó truyền tải. Đặc biệt, Kim Cương thừa được xem là con đường thiện xảo và nhanh chóng nhất để chứng đạt giác ngộ, nổi bật với những phương pháp thực hành đặc biệt về thiền, trì tụng minh chú, quán đỉnh và các nghi lễ phong phú khác.
Bộ sách “Nhập Môn Kim Cương Thừa” của tác giả John Powers chính là chiếc chìa khóa giúp độc giả khám phá truyền thống đặc biệt này. Tại đây, trí tuệ và từ bi hòa quyện để tạo nên những phương pháp tu tập mang tính thực tiễn, mang lại lợi ích vô lượng cho tất cả chúng sinh.
Kim Cương thừa: Một di sản tâm linh vượt thời gian
Kim Cương thừa không chỉ đơn thuần là một truyền thống tâm linh mà còn là một di sản văn hóa quý báu của nhân loại. Dẫu phải đối mặt với nhiều biến động lịch sử, đặc biệt là sự kiện các vị lama Tây Tạng buộc phải rời quê hương vào thế kỷ 20, truyền thống này vẫn vượt qua mọi ranh giới địa lý để lan tỏa đến các trung tâm Phật giáo và học thuật trên toàn thế giới. Sự lan tỏa này đã giúp Kim Cương thừa trở nên gần gũi hơn với những ai mong muốn khám phá và thực hành. Điểm đặc biệt của Kim Cương thừa là nhấn mạnh khả năng đạt giác ngộ ngay trong đời này, thông qua hệ thống học thuật và các phương pháp tu tập thâm sâu, dưới sự hướng dẫn của các bậc thầy giác ngộ.
Phân tích bộ sách “Nhập Môn Kim Cương Thừa”
Tác phẩm này được chia thành bốn phần chính, dẫn dắt độc giả khám phá những chiều sâu tâm linh của truyền thống Kim Cương thừa:
Phần 1: Nền tảng và giáo lý Phật giáo
Phần này giới thiệu khái quát về cuộc đời Đức Phật, các giáo lý nền tảng của Phật giáo và sự phân biệt giữa ba nhánh chính: Tiểu thừa, Đại thừa và Kim Cương thừa. Tác giả làm nổi bật vai trò của Kim Cương thừa như đỉnh cao của hành trình tâm linh, với các nội dung như:
Nguyên lý Tứ Diệu Đế – nền tảng của đạo Phật.
Con đường Bát Chánh Đạo và cách áp dụng vào đời sống hàng ngày.
Khái niệm Tánh Không (Shunyata), cốt lõi trong giáo lý Đại thừa và Kim Cương thừa.
Ngoài ra, phần này còn nhấn mạnh cách các phương pháp thực hành thiền định truyền thống (như shamatha và vipassana) được nâng lên một tầm cao mới trong Kim Cương thừa, dành cho những hành giả có căn cơ mạnh mẽ.
Phần 2: Lịch sử, văn hóa và đời sống Phật giáo Tây Tạng
John Powers dựng nên một bức tranh toàn diện về lịch sử truyền bá Phật giáo vào Tây Tạng, từ thời vua Songtsen Gampo thế kỷ 7 đến sự phát triển của các dòng truyền thừa chính.
Phần này cũng đề cập đến những nghi lễ quan trọng, các lễ hội lớn (như lễ Monlam Chenmo), và vai trò của các đạo sư trong đời sống tâm linh Tây Tạng. Sự kiện Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 và cộng đồng Tây Tạng lưu vong được trình bày như một biểu tượng của sự kiên cường và khả năng thích nghi của Kim Cương thừa trước thử thách.
Phần 3: Giáo lý và thực hành của Phật giáo Tây Tạng
Phần này tập trung vào các giáo lý và nghi thức đặc trưng của Kim Cương thừa, đặc biệt liên quan đến thiền định, cái chết và tái sinh. Mở đầu là phần trình bày vai trò của Mật điển trong nền văn học Phật giáo và làm sáng tỏ rằng Kim Cương thừa là một nhánh phát triển của Đại thừa. Tiếp đến, mandala và mantra (minh chú) và mudra (thủ ấn) là những phương tiện được Kim Cương thừa sử dụng để chuyển hóa tâm thức và liên kết với các phẩm chất giác ngộ.
Hệ thống thực hành Mật điển, thực hành sơ khởi (ngöndro) và những giới nguyện gốc của Mật thừa được John Powers trình bày như là nền tảng tri thức và thực nghiệm cần thiết để hành giả đạt được kết quả viên mãn của Kim Cương thừa. Bên cạnh đó, những thực hành của Mật thừa sẽ không có ý nghĩa nếu chúng không liên hệ đến mục tiêu giải thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi. Do vậy, trong phần này, tác giả cũng phân tích chi tiết về tiến trình Bardo (trạng thái trung gian sau khi chết), các phương pháp du-già liên hệ đến tiến trình sinh tử, và các nghi lễ giúp một người tái sinh vào cõi lành.
Phần 4: Các dòng truyền thừa chính của Phật giáo Tây Tạng
Phần cuối của sách đi sâu vào các giáo lý cốt lõi và giới thiệu bốn dòng truyền thừa lớn:
Nyingma – truyền thừa xưa nhất, nổi bật với giáo lý Dzogchen (Đại Viên Mãn).
Kagyu – tập trung vào thực hành thiền định và giáo lý Mahamudra (Đại Ấn).
Sakya – được biết đến với hệ thống thực hành Lamdre (Con Đường và Kết Quả).
Gelug – nổi bật với các luận giải triết học và truyền thống của các vị Dalai Lama.
Tác giả giải thích tường tận cách hành giả tiến hành tu tập, từ các cấp độ sơ cơ đến thực hành nâng cao về du-già của Mật điển. Vai trò của các đạo sư, như những người dẫn dắt trực tiếp, được nhấn mạnh như yếu tố không thể thiếu để hành giả đạt giác ngộ viên mãn.
Vì sao “Nhập Môn Kim Cương Thừa” là tác phẩm đặc biệt?
Với sự kết hợp giữa tính học thuật nghiêm túc và cách trình bày gần gũi, cuốn sách này không chỉ là một tài liệu dành cho các học giả mà còn là nguồn cảm hứng mạnh mẽ cho mọi người đang tìm kiếm con đường tâm linh.
Những điểm nổi bật:
Cách tiếp cận toàn diện, giải thích Kim Cương thừa qua nhiều khía cạnh: lịch sử, văn hóa, giáo lý và thực hành.
Ngôn ngữ dễ hiểu, phù hợp với cả người mới bắt đầu và hành giả kỳ cựu.
Sự cân bằng giữa lý thuyết và ứng dụng, giúp người đọc không chỉ hiểu mà còn thực hành được trong đời sống.
Bộ sách này đặc biệt phù hợp với:
Sinh viên Phật học, những người đang cần một tài liệu hệ thống hóa về Phật giáo Tây Tạng.
Độc giả muốn tìm hiểu về Kim Cương thừa từ góc độ lịch sử, văn hóa, địa lý, chính trị và giáo lý.
Hành giả đang thực hành theo các dòng truyền thừa của Tây Tạng, mong muốn một bản hướng dẫn cô đọng để phối hợp với những bộ luận giải chi tiết như Lamrim Chenmo (Đại Luận Về Những Giai Đoạn Của Đạo Lộ) và Ngakrim Chenmo (Đại Luận Về Mật Thừa) của Tổ Tsongkhapa, hay Lamrim Yeshe Nyingpo (Trình Tự Đường Tu Từ Tuệ Giác Tinh Túy) của Đạo Sư Padmasambhava...
Bất kỳ ai khao khát khám phá con đường giải thoát của Kim Cương thừa thông qua một tác phẩm vừa uyên bác, vừa đầy tâm huyết.

Lời Cầu Nguyện Buổi Tối
Cuốn Lời Cầu Nguyện Buổi Tối là món quà ý nghĩa mà chúng ta có thể tặng cho các em từ 03 đến 12 tuổi. Cuốn sách này gồm 44 nội dung, giúp trẻ cầu nguyện mỗi buổi tối, sau một ngày học tập và vui chơi.
Với mỗi nội dung, cuốn sách sẽ trình bày một trích đoạn Kinh Thánh ngắn, giúp bé hướng lòng lên Chúa. Ở trang bên cạnh là một lời cầu nguyện ngắn. Bé có thể dùng lời này để cầu nguyện, hoặc bố mẹ có thể giúp bé cầu nguyện tự phát phù hợp với ý tưởng đoạn Kinh Thánh gợi ra. Không chỉ thế, với mỗi nội dung, quyển sách còn đề nghị một việc làm cụ thể cho bé. Chẳng hạn, để dạy bé quan tâm người khác, cuốn sách gợi ý: "Lời khen ngợi và khích lệ của em sẽ giúp người khác cảm thấy vui hơn."
(Phần Kinh Thánh tiếng Việt được trích dẫn hoặc phỏng theo Kinh Thánh Truyền Thống 1925 và Kinh Thánh Truyền Thống Hiệu đính 2010.)

Kinh Thánh Tân Ước Và Cựu Ước
Trên thế giới, Kinh Thánh thường được mặc nhiên thừa nhận là “sách bán chạy nhất mọi thời đại” và xứng đáng là sách nên có trong tủ sách của mỗi cá nhân và gia đình.
Là một nguồn mạch lớn của văn chương thế giới, Kinh Thánh truyền cảm hứng cho vô số tác phẩm văn học trên khắp thế giới qua các câu chuyện kinh điển như: chuyện A-đam và Ê-va ăn “trái cấm”; chuyện chiếc tàu Nô-ê; chuyện chàng chăn cừu Đa-vít và gã khổng lồ Gô-li-át…
Đối với người Cơ Đốc, Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời — Ngài có quyền năng đem lại sự sống, sự khôn ngoan, bình an, và hy vọng cho những ai hết lòng tìm kiếm lẽ thật.
Bản dịch Kinh Thánh 1925 đã chuyển tải thành công một tác phẩm kinh điển của nhân loại bằng một thứ tiếng Việt rất đẹp và trong sáng của thập niên 1920. Đây là kết tinh trí tuệ của một tập thể bao gồm các nho sĩ Tin Lành Việt Nam, các học giả người Việt cấp tiến, và các giáo sĩ ngoại quốc yêu mến Việt Nam.
Kinh Thánh tiếng Anh bản King James là một trong những bản dịch Kinh Thánh tiếng Anh được sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới hiện nay. Ngôn từ trang trọng và nhịp điệu văn xuôi của bản King James đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của văn học và ngôn ngữ Anh trong vòng 400 năm qua.

Thần Chú Linh Ứng Nhiệm Màu
CUỐN SÁCH ĐẶC BIỆT DÀNH CHO NHỮNG NGÀY ĐẦU NĂM MỚI
“Thần chú linh ứng nhiệm màu” là cuốn sách tổng hợp những bài chú và thần chú quen thuộc, uy lực nhất trong Phật Giáo được đông đảo mọi người trì chú mỗi ngày như một cách chữa lành, chăm sóc đời sống tinh thần và tu tập hướng bản thân tới những điều thiện lành, tốt đẹp.
Cuốn sách được gửi tới bạn đọc vào mùa xuân năm 2024, như một món quà đồng hành cùng bạn trên con đường tìm kiếm sự bình an, mong cầu mọi điều thuận lợi may mắn.
- Sách được làm phiên bản đặc biệt, bìa cứng, cán mờ, phủ nhũ ánh kim sang trọng phù hợp dành tặng bạn bè, người thân trong dịp năm mới.
- Khổ sách nhỏ (10*15cm) giúp bạn thuận tiện mang theo bên mình tu tập mọi lúc mọi nơi, giúp tinh thần an yên, tự tại trên mọi hành trình.
- Ngoài các bài chú và thần chú, bạn đọc còn có thể thực hiện chép hồng danh Đức Phật và ghi lại những lời khấn nguyện trong suốt một năm ngay trong chính quyển sách nhỏ bé này. Mong rằng bạn có thể sống một cuộc đời thong dong, nhẹ nhàng và như ý.

Phương Pháp Mới Nghiên Cứu Kinh Lăng Nghiêm
Kinh Lăng Nghiêm rất có danh tiếng ở Việt Nam. Kinh này đã độ nhiều trí thức và Phật tử, giúp họ có một căn bản vững chắc, đi sâu vào đạo.
Nay giáo sư Tuệ Quang áp dụng một phương pháp mới để nghiên cứu Kinh Lăng Nghiêm, phán đoán rất tinh vi, tỉ mỉ. Nhờ đó, chúng ta thấy phương pháp giảng dạy của Phật rất tài tình, mạch lạc.
Phật dùng nhân minh để giảng dạy Kinh này.
Dịch giả dùng lời văn giản dị, rõ ràng, trình bày rất sáng sủa, mà vẫn dịch đúng nguyên văn.
Cuối mỗi đoạn lại có phần bình luận, hướng dẫn người đọc và giảng rộng những chỗ cần giảng. Nhờ đó, người đọc có thể thống suốt bộ kinh và hiểu sâu triết lý đạo Phật. Tôi ân cần giới thiệu bộ Kinh rất có giá trị, bộ Phương Pháp Mới Nghiên Cứu Kinh Lăng Nghiêm với các tri thức và Phật tử gần xa. Công đức tụng kinh cũng rất lớn lao. Mong nhiều Phật tử sẽ ra công trì tụng và truyền bá kinh này.

Bộ Sách Nhập Môn Kim Cương Thừa - Tập 1 + Tập 2 (Bộ 2 Tập)
Phật giáo & Truyền thống Kim Cương thừa
Phật giáo như một hệ thống triết học và tâm linh lâu đời, đã đồng hành cùng nhân loại qua hàng thiên niên kỷ, mang lại ánh sáng của giác ngộ, sự an lạc nội tâm và con đường vượt thoát khổ đau. Trong ba nhánh lớn của Phật giáo, Kim Cương thừa (hay còn gọi là Phật giáo Tây Tạng) tỏa sáng như một con đường tinh tế, mạnh mẽ và độc đáo, mang đến những phương pháp tu tập thiện xảo, giúp hành giả đạt được giác ngộ viên mãn ngay trong một đời.
Giới thiệu về Kim Cương thừa
Giáo pháp của Đức Phật được triển khai qua 84.000 pháp môn, đáp ứng sự đa dạng về căn cơ và tâm tính của chúng sinh. Thế nên, trước khi bước vào thực hành bất kỳ pháp môn nào, hành giả cần hiểu rõ bản chất con đường, phương pháp thực hành và giá trị cốt lõi mà pháp môn đó truyền tải. Đặc biệt, Kim Cương thừa được xem là con đường thiện xảo và nhanh chóng nhất để chứng đạt giác ngộ, nổi bật với những phương pháp thực hành đặc biệt về thiền, trì tụng minh chú, quán đỉnh và các nghi lễ phong phú khác.
Bộ sách “Nhập Môn Kim Cương Thừa” của tác giả John Powers chính là chiếc chìa khóa giúp độc giả khám phá truyền thống đặc biệt này. Tại đây, trí tuệ và từ bi hòa quyện để tạo nên những phương pháp tu tập mang tính thực tiễn, mang lại lợi ích vô lượng cho tất cả chúng sinh.
Kim Cương thừa: Một di sản tâm linh vượt thời gian
Kim Cương thừa không chỉ đơn thuần là một truyền thống tâm linh mà còn là một di sản văn hóa quý báu của nhân loại. Dẫu phải đối mặt với nhiều biến động lịch sử, đặc biệt là sự kiện các vị lama Tây Tạng buộc phải rời quê hương vào thế kỷ 20, truyền thống này vẫn vượt qua mọi ranh giới địa lý để lan tỏa đến các trung tâm Phật giáo và học thuật trên toàn thế giới. Sự lan tỏa này đã giúp Kim Cương thừa trở nên gần gũi hơn với những ai mong muốn khám phá và thực hành. Điểm đặc biệt của Kim Cương thừa là nhấn mạnh khả năng đạt giác ngộ ngay trong đời này, thông qua hệ thống học thuật và các phương pháp tu tập thâm sâu, dưới sự hướng dẫn của các bậc thầy giác ngộ.
Phân tích bộ sách “Nhập Môn Kim Cương Thừa”
Tác phẩm này được chia thành bốn phần chính, dẫn dắt độc giả khám phá những chiều sâu tâm linh của truyền thống Kim Cương thừa:
Phần 1: Nền tảng và giáo lý Phật giáo
Phần này giới thiệu khái quát về cuộc đời Đức Phật, các giáo lý nền tảng của Phật giáo và sự phân biệt giữa ba nhánh chính: Tiểu thừa, Đại thừa và Kim Cương thừa. Tác giả làm nổi bật vai trò của Kim Cương thừa như đỉnh cao của hành trình tâm linh, với các nội dung như:
- Nguyên lý Tứ Diệu Đế – nền tảng của đạo Phật.
- Con đường Bát Chánh Đạo và cách áp dụng vào đời sống hàng ngày.
- Khái niệm Tánh Không (Shunyata), cốt lõi trong giáo lý Đại thừa và Kim Cương thừa.
Ngoài ra, phần này còn nhấn mạnh cách các phương pháp thực hành thiền định truyền thống (như shamatha và vipassana) được nâng lên một tầm cao mới trong Kim Cương thừa, dành cho những hành giả có căn cơ mạnh mẽ.
Phần 2: Lịch sử, văn hóa và đời sống Phật giáo Tây Tạng
John Powers dựng nên một bức tranh toàn diện về lịch sử truyền bá Phật giáo vào Tây Tạng, từ thời vua Songtsen Gampo thế kỷ 7 đến sự phát triển của các dòng truyền thừa chính.
Phần này cũng đề cập đến những nghi lễ quan trọng, các lễ hội lớn (như lễ Monlam Chenmo), và vai trò của các đạo sư trong đời sống tâm linh Tây Tạng. Sự kiện Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 và cộng đồng Tây Tạng lưu vong được trình bày như một biểu tượng của sự kiên cường và khả năng thích nghi của Kim Cương thừa trước thử thách.
Phần 3: Giáo lý và thực hành của Phật giáo Tây Tạng
Phần này tập trung vào các giáo lý và nghi thức đặc trưng của Kim Cương thừa, đặc biệt liên quan đến thiền định, cái chết và tái sinh. Mở đầu là phần trình bày vai trò của Mật điển trong nền văn học Phật giáo và làm sáng tỏ rằng Kim Cương thừa là một nhánh phát triển của Đại thừa. Tiếp đến, mandala và mantra (minh chú) và mudra (thủ ấn) là những phương tiện được Kim Cương thừa sử dụng để chuyển hóa tâm thức và liên kết với các phẩm chất giác ngộ.
Hệ thống thực hành Mật điển, thực hành sơ khởi (ngöndro) và những giới nguyện gốc của Mật thừa được John Powers trình bày như là nền tảng tri thức và thực nghiệm cần thiết để hành giả đạt được kết quả viên mãn của Kim Cương thừa. Bên cạnh đó, những thực hành của Mật thừa sẽ không có ý nghĩa nếu chúng không liên hệ đến mục tiêu giải thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi. Do vậy, trong phần này, tác giả cũng phân tích chi tiết về tiến trình Bardo (trạng thái trung gian sau khi chết), các phương pháp du-già liên hệ đến tiến trình sinh tử, và các nghi lễ giúp một người tái sinh vào cõi lành.
Phần 4: Các dòng truyền thừa chính của Phật giáo Tây Tạng
Phần cuối của sách đi sâu vào các giáo lý cốt lõi và giới thiệu bốn dòng truyền thừa lớn:
- Nyingma – truyền thừa xưa nhất, nổi bật với giáo lý Dzogchen (Đại Viên Mãn).
- Kagyu – tập trung vào thực hành thiền định và giáo lý Mahamudra (Đại Ấn).
- Sakya – được biết đến với hệ thống thực hành Lamdre (Con Đường và Kết Quả).
- Gelug – nổi bật với các luận giải triết học và truyền thống của các vị Dalai Lama.
Tác giả giải thích tường tận cách hành giả tiến hành tu tập, từ các cấp độ sơ cơ đến thực hành nâng cao về du-già của Mật điển. Vai trò của các đạo sư, như những người dẫn dắt trực tiếp, được nhấn mạnh như yếu tố không thể thiếu để hành giả đạt giác ngộ viên mãn.
Vì sao “Nhập Môn Kim Cương Thừa” là tác phẩm đặc biệt?
Với sự kết hợp giữa tính học thuật nghiêm túc và cách trình bày gần gũi, cuốn sách này không chỉ là một tài liệu dành cho các học giả mà còn là nguồn cảm hứng mạnh mẽ cho mọi người đang tìm kiếm con đường tâm linh.
Những điểm nổi bật:
- Cách tiếp cận toàn diện, giải thích Kim Cương thừa qua nhiều khía cạnh: lịch sử, văn hóa, giáo lý và thực hành.
- Ngôn ngữ dễ hiểu, phù hợp với cả người mới bắt đầu và hành giả kỳ cựu.
- Sự cân bằng giữa lý thuyết và ứng dụng, giúp người đọc không chỉ hiểu mà còn thực hành được trong đời sống.
Bộ sách này đặc biệt phù hợp với:
- Sinh viên Phật học, những người đang cần một tài liệu hệ thống hóa về Phật giáo Tây Tạng.
- Độc giả muốn tìm hiểu về Kim Cương thừa từ góc độ lịch sử, văn hóa, địa lý, chính trị và giáo lý.
- Hành giả đang thực hành theo các dòng truyền thừa của Tây Tạng, mong muốn một bản hướng dẫn cô đọng để phối hợp với những bộ luận giải chi tiết như Lamrim Chenmo (Đại Luận Về Những Giai Đoạn Của Đạo Lộ) và Ngakrim Chenmo (Đại Luận Về Mật Thừa) của Tổ Tsongkhapa, hay Lamrim Yeshe Nyingpo (Trình Tự Đường Tu Từ Tuệ Giác Tinh Túy) của Đạo Sư Padmasambhava...
- Bất kỳ ai khao khát khám phá con đường giải thoát của Kim Cương thừa thông qua một tác phẩm vừa uyên bác, vừa đầy tâm huyết.
VỀ ẤN BẢN ĐẶC BIỆT
Ấn bản đặc biệt "Nhập Môn Kim Cương Thừa" – Phiên bản mang đậm dấu ấn trí tuệ và văn hóa
Nội dung của của bộ sách “Nhập Môn Kim Cương Thừa” không chỉ mở ra cánh cửa bước vào thế giới tri thức phong phú của Phật giáo Tây Tạng mà phần thiết kế của ấn bản đặc biệt còn nhằm tôn vinh giá trị văn hóa và truyền thống Phật giáo gắn liền với đất nước Việt Nam từ ngàn xưa. Với sự chế tác của các nghệ nhân làng nghề khảm trai Chuyên Mỹ (Phú Xuyên, Hà Nội) – nơi lưu giữ và phát triển kỹ thuật khảm trai hàng trăm năm – từng bìa sách được chế tác thủ công với sự tận tâm và tỉ mỉ đến từng chi tiết. Những dòng triết lý sâu sắc của Phật giáo từ phần nền tảng đến phần tinh túy nhất của Kim Cương thừa – phản chiếu ánh sáng của trí tuệ và từ bi, được chứa đựng bên trong bìa sách khảm trai tinh xảo, nhằm nhấn mạnh về tầm quan trọng trong sự giao thoa giữa hai dòng chảy văn hóa và tâm linh. Thế nên, mỗi ấn phẩm không chỉ là một tác phẩm nghệ thuật mà còn hàm chứa ý nghĩa tâm linh sâu sắc.
Tập Một: Hình ảnh Hoa Sen – Biểu tượng của sự thanh tịnh và giác ngộ
Phần bìa của Tập 1 nổi bật với hình ảnh hoa sen được khảm trai tinh tế, như một thông điệp mạnh mẽ về sự thanh tịnh và vượt thoát khổ đau. Trên bìa sách, từng cánh sen được tạo nên từ những mảnh trai tự nhiên, phản chiếu ánh sáng lung linh, như ánh sáng chân lý soi sáng con đường của hành giả. Nghệ nhân đã tỉ mỉ lựa chọn và sắp đặt các mảnh trai để tạo nên một hồ sen sống động, biểu trưng cho hành trình hành giả đã vượt qua những khổ đau, ô nhiễm của cuộc đời để chạm đến sự tỉnh thức, và cuối cùng bước vào vùng không gian giác ngộ tịnh lạc.
Nội dung của Tập 1 trình bày về giáo lý Phật giáo nền tảng kết hợp với những giá trị về địa lý, lịch sử, văn hóa, chính trị... của đất nước Tây Tạng. Phần giáo lý này là cơ sở của tất cả tông phái Phật giáo từ xưa đến nay, kể cả những tông phái Phật giáo đang hiện diện tại Việt Nam. Thế nên, Tập 1 hứa hẹn sẽ mang lại cho độc giả một cảm giác gần gũi nhưng không kém phần thú vị ngay từ thiết kế bìa sách, cho đến cả cách thức mà những giáo lý nền tảng đã được hấp thụ qua lăng kính văn hóa của đất nước Phật giáo Tây Tạng.
Tập Hai: Hình ảnh Mandala và âm tiết AH – Tánh Không và trạng thái đại viên mãn.
Bìa Tập 2 của bộ sách mang hình ảnh mandala thiêng liêng, được khảm trai tỉ mỉ và đi kèm với chủng tự “A” (ཨ). Trong truyền thống Kim Cương thừa, Mandala là biểu tượng của vũ trụ hoàn hảo, đại diện cho sự hài hòa giữa trật tự bên ngoài và bên trong. Mỗi đường nét, mỗi vòng tròn trong mandala đều thể hiện cấu trúc vi diệu của vạn vật, nhắc nhở hành giả rằng mọi thứ đều nằm trong sự trọn vẹn của bản chất chân thật. Âm tiết “A” là nguyên âm đầu tiên trong bản chữ cái tiếng Phạn và hàm chứa ý nghĩa liên quan đến tánh Không trong Phật giáo Đại thừa. Như được thuyết giảng trong Nhất Tự Phật Mẫu Bát Nhã Kinh (Ekākṣarīmātāprajñāpāramitā-sutra), tất cả giáo lý về tuệ giác bát nhã đều gói gọn trong chủng tự “A” này. Đôi khi, chữ “A” cũng được coi là tượng trưng cho bản chất của Phật hoặc sử dụng cho một số kỹ thuật thiền định trong các truyền thống Phật giáo Đông Á của Thiền tông. Trong các truyền thống Dzogchen của Nyingma, chủng tự “A” thường biểu trưng cho trạng thái nguyên sơ của giác tánh – “Phật” – trạng thái tâm căn bản của tất cả chúng sinh. Thế nên, chủng tự “A” và hình ảnh mandala của tập hai “Nhập Môn Kim Cương Thừa” cũng chính là lời nhắc nhở về bản chất chân thật của thực tại – nơi không còn sự phân biệt, chỉ còn trí tuệ và sự rộng mở vô biên.
Tinh hoa của làng nghề khảm trai Việt Nam
Những hình ảnh biểu tượng như hoa sen và mandala trên bìa sách được thực hiện bởi những nghệ nhân tài hoa từ làng nghề Chuyên Mỹ – một địa danh nổi tiếng với kỹ thuật khảm trai độc đáo, đã tồn tại và phát triển qua nhiều thế hệ.
Nguyên liệu khảm trai được lựa chọn kỹ càng từ những mảnh trai tự nhiên, đảm bảo độ bóng mịn, độ bền và khả năng phản chiếu ánh sáng tinh tế. Các nghệ nhân sử dụng kỹ thuật khảm truyền thống, từ việc cắt gọt, đục đẽo đến gắn từng mảnh trai lên bề mặt gỗ, tạo nên những tác phẩm vừa hoàn hảo về mặt thẩm mỹ, vừa thể hiện chiều sâu văn hóa và tâm linh.
Sự kết hợp giữa nghệ thuật thủ công Việt Nam và triết lý Phật giáo đã mang lại giá trị độc đáo cho ấn bản đặc biệt này, biến mỗi quyển sách thành một tác phẩm nghệ thuật tinh xảo, chứa đựng tâm huyết của người làm sách và nghệ nhân.
Ý nghĩa của ấn bản đặc biệt
Ấn bản đặc biệt “Nhập Môn Kim Cương Thừa” không chỉ là một bộ sách chứa đựng tri thức phong phú của Phật giáo Tây Tạng mà còn là một cầu nối giữa văn hóa Việt Nam và triết lý Phật giáo.
- Hoa sen tượng trưng cho hành trình vượt thoát khổ đau để đạt đến giác ngộ.
- Mandala là biểu tượng của sự trọn vẹn, cân bằng giữa vũ trụ và con người.
- Chủng tự A mang thông điệp về tánh Không, sự sáng tỏ và bản chất chân thật của thực tại.
Tất cả những hình ảnh này, khi được thể hiện qua bàn tay tài hoa của các nghệ nhân Việt Nam, đã nâng tầm bộ sách từ một tài liệu học thuật trở thành một tác phẩm nghệ thuật để chiêm nghiệm và trân quý.
Một di sản văn hóa và tâm linh đáng tự hào
Ấn bản đặc biệt “Nhập Môn Kim Cương Thừa” không chỉ dành cho những ai đang tìm kiếm con đường tâm linh hay học hỏi về Kim Cương thừa, mà còn là một minh chứng cho sự hòa quyện tuyệt vời giữa Phật giáo và văn hóa của hai đất nước Tây Tạng và Việt Nam.
Bộ sách là món quà dành cho những ai khao khát khám phá vẻ đẹp sâu sắc của tri thức và nghệ thuật, một biểu tượng cho sự hợp nhất giữa trí tuệ, từ bi và văn hóa truyền thống. Hãy để ấn bản đặc biệt này trở thành người bạn đồng hành quý giá trên hành trình tìm hiểu, thực hành và cảm nhận sự giác ngộ trong cuộc đời.
VỂ TÁC GIẢ JOHN POWERS
Tác giả John Powers là Giáo sư Nghiên cứu Châu Á tại Trường Văn hóa, Lịch sử và Ngôn ngữ, Đại học Châu Á và Thái Bình Dương, Đại học Quốc gia Australia, đồng thời là thành viên của Học viện Nhân văn Australia (College of Asia and the Pacific, Australian National University, and a Fellow of the Australian Academy of Humanities). Ông là tác giả của mười bốn cuốn sách và hơn bảy mươi bài báo, chương sách đăng tải trên các tạp chí khoa học. Nổi bật các tựa sách như A Bull of a Man: Images of Masculinity, Sex, and the Body in Indian Buddhism (2015) and Historical Dictionary of Tibet (with David Templeman, 2012).
Các tác phẩm của ông đã được xuất bản tại Việt Nam như: Thế giới Phật giáo

Lời Của Thiên Chúa
Sách châm ngôn và thi thiên trong kinh thánh bao gồm các bài hát, thơ vịnh cùng các bài viết thể hiện sự thờ phượng, lòng khao khát, sự khôn ngoan, tình yêu, nỗi tuyệt vọng và chân lý. Tại đây bạn sẽ gặp Chúa và tìm thấy sự bình yên, an ủi, sức mạnh, cũng như nguồn khích lệ cho mọi kinh nghiệm sống của mình.

Kinh Bản Nguyện Của Bồ Tát Địa Tạng
"Chúng sinh khi độ hết mới chứng đạo Bồ Đề"
"Địa ngục chưa bỏ không , thề không thành Phật quả"
Lời Bồ Tát Địa Tạng

Kinh Thánh - Tân Ước
Kinh Thánh lâu nay đã được xem là một tác phẩm kinh điển nhất mọi thời đại với những kỉ lục mà chưa từng có tác phẩm nào vượt qua được như: cuốn sách bán chạy nhất mọi thời đại (hơn 7 tỉ ấn bản được phát hành (ước tính tới năm 2020)); được dịch ra nhiều thứ tiếng nhất (Kinh Thánh trọn bộ được dịch sang 700 ngôn ngữ, và hơn 1.500 ngôn ngữ có bản dịch Tân Ước); cuốn sách được trích dẫn nhiều nhất, có ảnh hưởng nhất và là nguồn cảm hứng cho rất nhiều tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng trên thế giới…
Kinh Thánh có tên gốc trong tiếng Hy Lạp là Biblia, nghĩa là “sách”; trong tiếng La Tinh là Scriptura, nghĩa là “trước tác” “bài viết”, “bản thảo”; trong tiếng Anh gọi là The Bible, nghĩa là sách kinh điển. Khi chuyển sang Tiếng Việt, các dịch giả sử dụng theo danh từ Hán Việt - thường gọi các sách tôn giáo dạy đạo lý là kinh, nên chúng ta có tên gọi là Kinh Thánh trong Tiếng Việt, được sử dụng rộng rãi từ xưa đến nay, dù tên gọi này mang màu sắc tôn giáo và gây nhiều hiểu lầm cho những độc giả chưa từng tiếp cận.
Kinh Thánh gồm hai phần: từ nhiều văn thư được thu lại thành hai bộ lớn là Cựu Ước và Tân Ước trong suốt hơn 1.600 năm từ thế kỷ 12 trước CN cho tới thế kỷ 2, được viết bằng ba ngôn ngữ, chủ yếu là chữ Hebrew (hay Hipri của người Do Thái), Hi Lạp cổ và một vài phân đoạn trong Kinh Thánh được viết bằng tiếng Aram - một cổ ngữ được dùng phổ biến tại Do Thái trong thời Đức Chúa Yêsu.
Cựu Ước là Giao ước cũ của người Hebrew (nay gọi là Do Thái) với Thiên Chúa, gồm 46 cuốn chia 4 phần, chứa đựng vũ trụ quan, nhân sinh quan cổ xưa nhất của nhân loại, do nhiều người viết suốt từ năm 1.200 đến năm 100 trước CN. Còn Tân Ước là Giao ước mới của các tín đồ Ki-tô giáo với Thiên Chúa, nguyên văn từ các cổ bản Hi Lạp, ra đời một thế kỷ sau khi xuất hiện đạo Ki-tô, trình bày cuộc đời và học thuyết của Chúa Yêsu.
Kinh Thánh là có thể được xem là một bách khoa toàn thư rất hữu ích trong việc nghiên cứu nhân loại cổ đại về các mặt lịch sử, chính trị, quân sự, pháp luật, luân lý đạo đức, kinh tế, khoa học kỹ thuật, y học, văn hoá... Nên có thể nói chưa đọc và hiểu Kinh Thánh thì rất khó hiểu được nền văn minh phương Tây nói riêng, cũng như thế giới nói chung.
VỀ BẢN DỊCH KINH THÁNH CỦA LINH MỤC NGUYỄN THẾ THUẤN
Việc chuyển ngữ Kinh Thánh sang tiếng Việt bắt đầu từ đầu thế kỷ XX, cách đây hơn 100 năm, và đã có khoảng 6 bản dịch đầy đủ của tác phẩm này được xuất bản tại Việt Nam và phổ biến chủ yếu trong cộng đồng Công giáo.
Bản tiếng Việt do Omega+ xuất bản là bản dịch của cố Linh mục Giuse Nguyễn Thế Thuấn - một học giả uyên thâm của Giáo hội Công giáo Việt Nam, lâu nay được xem là một trong những công trình dịch thuật khả tín, khoa học nhất đã từng được xuất bản bằng tiếng Việt, được giới nghiên cứu đánh giá rất cao và là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng đối với các chủng sinh Đại Chủng viện, Học viện của các Dòng Tu…
Bản dịch được thực hiện trong hơn 15 năm, kể từ khi Cha Thuấn du học về nước năm 1956 và gần hoàn tất cho đến khi mất năm 1975. Cuối năm 1976, toàn bộ bản dịch Kinh Thánh của Cha được các vị trong dòng tu hoàn thiện phần còn lại dở dang và xuất bản lần đầu tiên tại Sài Gòn. Đến nay (không tính các bản copy) thì chưa được in thêm một lần nào nữa. Lần in này là lần in thứ hai sau 46 năm.
Những điểm nổi bật của bản dịch:
- Bản dịch công phu được Linh mục Giuse Nguyễn Thế Thuấn thực hiện trên các nguyên bản tiếng Hipri, Aram và Hy Lạp, đối chiếu với các bản Syri và Latinh.
- Cha Thuấn đã dày công thực hiện việc chú giải Kinh Thánh một cách tỉ mỉ và công phu. Đây cũng là phần nội dung được đánh giá cao so với một số bản dịch khác.
- Cha khảo dị những sự khác nhau, thiếu/đủ từng chữ, từng câu trên các văn bản đã khảo sát. Ví dụ: (…) vòng lại những chữ trong văn bản không có, nhưng cần để rõ nghĩa chiếu theo mẹo, hay mạch lạc; hoặc […] vòng lại những chữ, hay câu, chắc được là có trong văn bản cựu trào, nhưng nhiều bản xưa lại không có…
- Cha Thuấn còn thực hiện một lớp chú giải khác bên lề sách, với nhiều trang sách chi chít ký tự và số, với mục đích chỉ ra các đoạn khác trùng nhau, đi song song với nhau về ý tưởng trong cùng một quyển sách.
NỘI DUNG CHI TIẾT CỦA KINH THÁNH TÂN ƯỚC
Kinh Thánh – Tân Ước gồm 27 sách hợp lại. Nói về đặc điểm chung của 27 sách này, ấn bản do Linh mục Nguyễn Thế Thuấn nhận định rằng đây là “Hai mươi bảy văn thư, dài vắn khác nhau, nội dung và ngoại diện cũng có lắm điều thù dị, đã được thu lại làm thành một bộ, và mang tên chung là Tân Ước, hay nói cho rõ hơn: Kinh Thánh của Giao ước mới”.
Về bố cục sắp xếp của 27 sách nhỏ tạo thành Kinh Thánh – Tân Ước, ta có:
1) Những sách thuật lại đời Chúa Yêsu: các lời Ngài nói, các việc Ngài làm. Đó là các sách mà lâu nay quen gọi là Tin Mừng (Phúc âm): Tin Mừng theo thánh Matthêô (Mt), Tin Mừng theo thánh Marcô (Mc), Tin Mừng theo thánh Luca (Lc), Tin Mừng theo thánh Yoan (Yn);
2) Sách Công vụ các Tông đồ (Cv) cho biết việc các Tông đồ (Phêrô và Phaolô) đã làm, để lập Hội thánh trong dân Do Thái và nơi Dân ngoại;
3) Các Thư của thánh Phaolô, các Thư Chung để các Ngài dạy dỗ Cộng đoàn tân tòng sống theo ơn Thiên Chúa đã kêu gọi, hay là đề phòng chống lại những lầm lạc đương thời, có thể làm tổn thương đến lòng đạo chân chính;
4) Trong buổi cấm cách ghê sợ: đế quốc Roma muốn diệt đạo Chúa Kitô, chúng ta thấy xuất hiện Khải huyền của Yoan (Kh) với mục đích ủy lạo khuyến khích tín hữu kiên tâm chịu đựng vì Chúa.
Bên cạnh khía cạnh thần học, tôn giáo, bản thân Kinh Thánh – Tân Ước là lịch sử nội bộ của Hội thánh cùng Cộng đoàn Kitô hữu. Theo đó, khi đặt trong đối sánh với thế sử, Kinh Thánh – Tân Ước giúp ta nhìn nhận vào các giai đoạn lịch sử văn minh thế giới kể từ mốc Chúa Yêsu ra đời từ một góc nhìn khác – góc nhìn của một tôn giáo mới ra đời và hình thành kể từ năm 0 – vào những diễn biến lịch sử đương thời (như sự tồn tại và phát triển của Cộng đoàn Kitô có liên quan và chịu ảnh hưởng ra sao từ các thiết chế pháp luật của Do Thái giáo và Đế chế La Mã).
Lịch sử của Hội thánh bao gồm các quá trình khai sinh, bành trướng, xung đột với bên ngoài, và củng cố nội bộ của Cộng đoàn Kitô. Các sách Tân Ước phản ảnh lại các giai đoạn ấy. Duyệt qua các giai đoạn ấy là dịp để ta đặt niên biểu cho các sách Tân Ước. Và nhờ niên biểu, chúng ta cũng được rõ bối cảnh lịch sử của các sách: một điều có ích lợi không phải là nhỏ trong việc tìm hiểu các sách Tân Ước.
Ý NGHĨA KÝ HIỆU Ở BÌA 4
Hai ký hiệu trên là Alpha và Omega viết bằng chữ Coptic; IC XC là Jesus Christ.
Đây là một trong nhiều dạng Christogram (ký hiệu giữa Kitô hữu với nhau), một loại biểu tượng được dùng trong khoảng vài trăm năm sau khi Chúa Kitô sống lại và các Tông đồ đi rao giảng, với mục đích chính là tạo ám hiệu trốn tránh người Do Thái và La Mã và để nhận biết Kitô hữu với nhau.
Alpha vs Omega: Thiên Chúa là bắt đầu và kết thúc; sự sống đời đời.
THÔNG TIN TÁC
LINH MỤC GIUSE NGUYỄN THẾ THUẤN (1922–1975)
Linh mục Giuse Nguyễn Thế Thuấn sinh năm 1922, tại làng La Phù, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Đông (nay thuộc thủ đô Hà Nội), thuộc giáo phận Hà Nội, vào Dòng Chúa Cứu Thế tại Hà Nội và thụ phong linh mục năm 29 tuổi, tức vào năm 1951.
Năm 1952, cha Nguyễn Thế Thuấn được cử đi du học tại Rome, kế đó, sang học tại trường Thánh Kinh Jerusalem trong vòng 4 năm (1952–1956). Về nước, cha được cử dạy môn Thánh Kinh tại Học viện của Dòng ở Đà Lạt. Cha từng giữ chức Giám học Học viện và bề trên nhà Dòng Chúa Cứu Thế tại Đà Lạt. Về sau, cha không giữ chức vụ này nữa mà chuyên tâm với việc dịch Kinh Thánh, bắt đầu với Tân Ước và theo sau là Cựu Ước.

Trần Nhân Tông, Đời - Đạo Không Hai
Trần Nhân Tông (1258-1308) là một vị vua anh minh, nhân vật lịch sử nổi bật trong
triều đại nhà Trần. Ngài còn là một thiền sư lớn của Phật giáo Việt Nam, ngài đã sáng lập ra
dòng Thiền Trúc Lâm, vẫn phát triển cho đến ngày nay. Bên cạnh việc triều chính, ngài không chọn hẳn chỉ con đường tâm linh (Đạo) ngay từ đầu bằng cách xuất gia, cũng không chỉ chọn hẳn con đường xã hội (Đời), ở mãi với đời. Hai con đường ấy đi song song với nhau, đến tuổi trưởng thành thì hòa hợp với nhau, đến tuổi trung niên thì hợp nhất với nhau cho tới khi ra đi khỏi thế gian. Qua bình giảng các bài thơ của ngài, cuốn sách Trần Nhân Tông, Đời - Đạo không hai đã nói lên được điều đó. Cuốn sách đặc biệt ở chỗ, tác giả cũng là một tu sĩ Phật giáo, vừa là một nhà tu hành vừa là một người sống trong đời sống, nên cái nhìn Đời - Đạo không hai của tác giả với ngài Trần Nhân Tông có sự thông giao nhau. Tác giả cảm, thấu, hiểu, bình giảng thơ của ngài với cùng một cái thấy ra “khuôn mặt chúa xuân nay khám phá”.
Với lối bình thơ gần gũi, dễ hiểu, lật mỗi trang sách lại cho người đọc chạm vào những ngày tháng từ “đãi cát kén vàng” cho đến ngày thấy ra “khuôn mặt chúa xuân” của ngài. Nhìn vào cuộc đời cao đẹp đó, chúng ta thấy rằng mình cũng cần “rèn lòng làm Bụt, chỉ cần chuyên nhất dồi mài” thì có ngày chúng ta thấy Trần Nhân Tông ở trong mình.
Có thể nói, Trần Nhân Tông không chỉ là nhà chính trị nhìn xa trông rộng mà còn là nhà quân sự có tài; không chỉ là nhà ngoại giao, mà còn là nhà tư tưởng, nhà văn, nhà thơ; không chỉ là bậc quân vương mà còn là nhà tu hành; không chỉ là nhà văn hoá mà còn là vị thiền sư lỗi lạc. Thời đại oanh liệt đã sản sinh ra ngài và ngài đã làm cho thời Trần càng thêm oanh liệt.
*Tác giả:
Đương Đạo Nguyễn Thế Đăng là một nhà sư, thuộc thế hệ thứ ba của chùa Tây Tạng ở Bình Dương. Nhiều năm qua, tác giả Nguyễn Thế Đăng đã viết hàng trăm bài đăng trên Văn Hóa Phật Giáo. Tuần san và Nguyệt san Giác Ngộ cũng đã đăng hàng chục bài của tác giả, chưa kể các báo điện tử, mỗi báo cũng đã đăng hàng chục bài. Tổ khai sơn chùa Tây Tạng ở Bình Dương là Thiền sư Nhẫn Tế (1888 – 1951). Tổ vốn thuộc dòng Lâm Tế đời thứ 40, từng sang Ấn Độ, Nepal và Tây Tạng tham bái và tu học. Tổ đã cầu đạo ở Tây Tạng, đắc pháp và được ban cho pháp danh Thubten Osel bởi những vị cao cấp của dòng Mũ Vàng (Gelugpa). Sau hơn một năm ở Tây Tạng, Tổ được phép trở về Việt Nam để lập chùa Tây Tạng, Bình Dương.
*Cuốn sách này dành cho:
- Những ai quan tâm, tìm hiểu lịch sử dân tộc, đặc biệt là lịch sử Phật giáo Việt Nam nói chung và dòng Thiền Trúc Lâm nói riêng
- Những ai quan tâm đến những nhân vật lịch sử nổi tiếng, mang bản sắc Việt Nam nhưng có tầm ảnh hưởng thế giới
- Những ai muốn tự hoàn thiện bản thân, hướng tới chân - thiện - mỹ
- Ai đó muốn đóng góp cho đất nước và thế giới trong thời đại toàn cầu hoá ngày nay, có thể coi Trần Nhân Tông là một con người lý tưởng để noi theo
*Trích đoạn sách hay
Đây là câu đầu tiên trong bài Xuân Vãn của ngài. Bài này nói sơ qua về con đường tâm linh cá nhân:
Niên thiếu chưa từng rõ sắc – Không,
Một xuân tâm ở tại trăm hoa
Khuôn mặt chúa Xuân nay khám phá
Giường gỗ, đệm thiền ngắm rụng hồng.
Niên thiếu chưa từng rõ Sắc – Không. Vào thời niên thiếu, chưa từng rõ (liễu), chưa từng ngộ (liễu ngộ), chưa từng biết trực tiếp tánh Không là gì.
Chưa có kinh nghiệm tâm linh trực tiếp về tánh Không, nhưng không phải ngài không có kiến thức và không học hỏi về tánh Không, bởi vì ông nội ngài là vua Trần Thái Tông (1218 – 1277) và cha ngài là vua Trần Thánh Tông (1240 – 1292) đều là những người ngộ đạo, và ngộ đạo khi đang làm vua.

10 Tư Tưởng Pháp Hoa Trong Đời Sống Hằng Ngày
Đúng như tên gọi của cuốn sách:“Tâm linh như là sự tiến hóa tất yếu của con người”– Tác giả Nguyễn Thế Đăng đã chỉ rõ cho độc giả thấy sự tiến hóa tâm linh là cần thiết cho con người. Sự tiến hóa đó được tác giả thể hiện qua việc phân tích ba tầng chính: Tầng thứ nhất là tầng vật chất, con người chia sẻ với nhau một đời sống giác quan để sống trong thế giới hay trái đất này: mắt để thấy, tai để nghe, mũi để ngửi, lưỡi để nếm, thân để xúc chạm. Tầng thứ hai là tầng ý thức, bao gồm trí thông minh và trí tuệ cảm xúc. Nhưng ý thức là giới hạn vì nó không thể giải quyết được nỗi khổ đau tiềm ẩn trong chúng ta, sinh ra để rồi chết, làm sao vượt khỏi cái chết và như thế cuộc đời chẳng có ý nghĩa gì. Tầng thứ ba giải quyết được tận cùng nỗi khổ của con người, đó chính là tầng tâm linh, nơi cội nguồn của cái Biết, của Tự do và Hạnh phúc.

Sợi Tơ Nhện
Cuốn Sợi tơ nhện phỏng theo một câu chuyện dân gian Trung Hoa mang đậm giáo lý nhân quả, nghiệp báo của Phật giáo.
Một sợi tơ mỏng manh, nhưng nếu trái tim đủ rộng, sợi tơ ấy sẽ là cứu cánh kéo ta thoát khỏi khổ đau của lửa dữ chốn Địa ngục, thoát khỏi những tâm niệm đen tối chốn lao ngục tinh thần. Một chút thiện tâm, một chút tình thương, tất cả đều là sợi tơ nhện giúp ta vượt qua tai ương và nguy khó. Chỉ cần buông bỏ những tâm niệm bất thiện là tức khắc, ta đã kết chặt mối lương duyên với sợi tơ nhện của Phật tổ ở Tây phương rồi.

Chú Rùa Khổng Lồ - The Gaint Turtle
“Trong mỗi bước đi cùng với thiên nhiên, chúng ta luôn nhận được nhiều hơn những gì ta tìm kiếm” (John Muir). Thật vậy, mẹ thiên nhiên luôn giúp đỡ, bao bọc và che chở chúng ta với tấm lòng nhân ái. Vì thế, chúng ta nên biết cách đáp lại sự hy sinh đó bằng thái độ tôn trọng, biết ơn và có trách nhiệm hơn về những việc mình làm với môi trường. Tựa như câu chuyện trong cuốn sách Chú Rùa khổng lồ (The Giant Turtle) đề cập đến, vì những hành động “ích kỷ” của con người mà làm tổn thương đến thân thể của chú Rùa, dẫu hàng ngày họ vẫn thường được chú nâng đỡ và nuôi nấng.
Chú Rùa khổng lồ (The Giant Turtle) là một cuốn truyện tranh song ngữ (Anh – Việt) dành cho trẻ em của Hội dịch kinh Phật, được Sư cô Liên Phát thuộc Trung tâm Biên phiên dịch Tư liệu Phật giáo Quốc tế chuyển ngữ. Cuốn truyện tranh không chỉ hấp dẫn bởi nội dung đầy ý nghĩa được truyền tải qua từng con chữ, mà chúng còn lôi cuốn người đọc bằng những hình ảnh được vẽ đầy chân thực và tươi mát. Tất cả quyện lại một cách hài hòa y như chính các bạn nhỏ từng nét phác họa nên câu chuyện trong cuốn sách vậy. Từ đó, những gì đọng lại về bài học cư xử với thiên nhiên nơi người đọc sẽ trở nên vừa gần gũi lại vừa dễ dàng cảm nhận.

Đại Ý Kinh Pháp Hoa
Trong các luận, thích, chú, sớ Kinh Pháp Hoa như trên, chỉ có Pháp Hoa Tam Đại Bộ của Thiên Thai Trí Khải Đại sư là chi tiết nhất, vì kiến thức cao, tầm hiểu biết rộng, nghĩa lý thâm sâu, mà các nhà chú thích khác không thể so sánh kịp.
Ngài là vị tổ sáng lập Thiên Thai tông. Tên chính là Trí Khải Thiền sư ở núi Thiên Thai. Thiên Thai Đại sư là tên gọi tôn kính. Trí Giả Đại sư là tên ban tặng của vua Tùy Dạng Đế. Ngài sinh năm Đại Đồng thứ 4 (538 TL) thời vua Võ Đế đời Lương, xuất gia năm 18 tuổi, viên tịch năm 60 tuổi. Giảng kinh, tu đạo, giáo huấn trong 42 năm.
Pháp Hoa Huyền Nghĩa, Pháp Hoa Văn Cú và Ma Ha Chỉ Quán là những trước tác đại biểu của Ngài. Pháp Hoa Huyền Nghĩa và Pháp Hoa Văn Cú, giải thích rõ về “giáo tướng môn” để triển khai phần “diệu giải”. Ma Ha Chỉ Quán nương vào giáo lý Kinh Pháp Hoa nói về thực tu “quán tâm môn”, sách tiến khích lệ phần “diệu hành”. Giải và hành hỗ trợ nhau, giáo và quán cùng tu, làm yếu chỉ cho Thiên Thai tông.

Truyện Tranh Kinh Dược Sư
Truyện tranh Kinh Dược Sư là một trong những tác phẩm nổi tiếng của cư sĩ Lâm Cự Tinh. Tác phẩm giới thiệu về Kinh Dược Sư, pháp môn Dược Sư Như Lai và câu chuyện cảm ứng Dược Sư Như Lai. Đức Thế Tôn đã khéo léo thuyết giảng tường tận về pháp môn Dược Sư với mười hai lời nguyện được thiết lập trên nền tảng từ bi và trí tuệ song hành, vừa sâu xa tinh tế lại uyển chuyển hài hòa với căn tính của con người thời hiện đại, càng thích hợp để tu trì và nương theo học tập để có được lợi lạc ngay trong kiếp hiện tiền.
Sách kỹ năng sống, Sách nuôi dạy con, Sách tiểu sử hồi ký, Sách nữ công gia chánh, Sách học tiếng hàn, Sách thiếu nhi