
Trong 26 năm (1859 - 1885) lật qua trang sử vẻ vang trong sự đấu tranh bền bỉ, ngoan cường và tuyệt vời của quân dân Nam kỳ, hình như không có năm nào là không có cuộc nổi lên chống Pháp hoặc bằng gươm giáo hoặc bằng văn thơ…
Với bất cứ giá nào, nhân dân Nam kỳ đã lao mình vào cuộc chiến đấu cứu nước, chấp nhận hi sinh trong trận địa mà lực lượng quân sự về vũ khí tối tân hai bên không tương xứng. Người anh hùng này vừa ngã xuống, liền có những anh hùng khác giành giựt nhảy vào thay thế như thách đố cái chết. Họ rất can đảm, biết chỗ nguy hiểm mà vẫn cứ lao mình vào như hăng say, như điên cuồng với một quyết tâm phi thường đến nỗi kẻ địch cũng phải sửng sốt và kính phục…
Văn chương là thứ vũ khí sắc bén vừa để đánh thẳng vào địch và bọn hợp tác với chúng vừa để thúc đẩy lòng yêu nước của nhân dân. Văn thơ thời kỳ (1859 - 1885) đa dạng: hịch, văn tế, thơ, phú, vè, ca dao.

Quyển sách Miền Tây Dung Dị là tập hợp 27 bài phóng sự nhỏ như hai mươi bảy bức họa sống động, dựng nên không gian miền Tây sông nước với nhiều lớp cảnh khác nhau.
Đó có thể là những người níu giữ ngành nghề truyền thống dệt thổ cẩm Chăm, làm lồng đèn, làm chiếu cói hay gìn giữ những trang sách cổ đầy tri thức. Hoặc, những con người liên nối giữa thời chiến tranh và hiện tại bằng tình đồng đội của hai con người cùng tên Bảy. Có thể là những tấm gương người dân chân chất, tham gia thiện nguyện vì cộng đồng của ông Phước "luật sư", hay ông Huỳnh Khắc Nam người có số lần hiến máu cứu người cao kỷ lục của miền Tây 45 lần... Qua từng bài, độc giả sẽ dần nhận ra cảm xúc chung của những người con miền Tây sông nước, từ người Bí thư tỉnh ủy "thân dân" Lê Minh Hoan đến người dân bình thường nhất, đều hiện rõ sự tự hào về công cuộc đổi mới từng ngày của quê hương.
Xuất thân là nhà báo, từng bài viết của tác giả Dương Út thấm đẫm chất tin tức, với thông tin cuộn nối thông tin; nhưng cảm nhận sâu hơn, chúng ta có thể thấy ẩn sau đó là chất ký sự - tùy bút của văn chương chứ không còn đơn thuần là báo chí.

Cuốn sách là bộ sưu tầm đầy đủ tri thức, tầm nhìn, cách tư duy về quản trị nhân sự, đối nhân xử thế, sức mạnh tổ chức, đào tạo giáo dục, chăm sóc khách hàng, chân lý đầy giá trị, những quy tắc bất biến trong kinh doanh mà hàng trăm doanh nhân nổi tiếng trên toàn thế giới đã công bố qua hàng thập kỷ qua. Qua cuốn sách này, tác giả muốn giúp cho những doanh nhân Việt Nam, những nhà quản trị Việt Nam lĩnh hội được tư duy, kiến thức mới, đúc rút được những kinh nghiệm để xây dựng doanh nghiệp Việt Nam thành những doanh nghiệp hùng mạnh, tạo công ăn việc làm, xây dựng ra những sản phẩm tốt, bước ra thế giới đóng góp cho sự phát triển của đất nước và đưa Việt Nam trở thành một nước hùng cường.

Quyển sách này là một dẫn nhập ngắn vào triết học dành cho những ai không biết bắt đầu từ đâu với môn học này. Thông thường ta sẽ học Triết khi bước chân vào đại học, nhưng điều đó chẳng có ý nghĩa gì với bản chất của môn học này cả.
Các năng lực phân tích của ta thường phát triển nhanh chóng trước khi ta học được nhiều điều về thế giới, đây là quyển sách giới thiệu trực tiếp về chín vấn đề triết học, mỗi vấn đề có thể được hiểu một cách độc lập mà không cần tham khảo đến lịch sử tư tưởng. Triết học khác với cả khoa học lẫn toán học. Khác với khoa học, triết học không dựa trên các thí nghiệm hay quan sát, mà chỉ dựa trên tư tưởng. Và khác với toán học, nó cũng không có các phương pháp hình thức của chứng minh.
Có rất nhiều văn bản giới thiệu dẫn nhập xuất sắc bao gồm cả những tuyển tập từ các triết gia vĩ đại trong quá khứ và từ các trước tác gần đây hơn. Quyển sách nhỏ này không phải là một sự thay thế cho lối tiếp cận đó, nhưng hi vọng nó sẽ mang lại cái nhìn đầu tiên vào lĩnh vực này một cách trực tiếp và rõ nhất có thể.

Tess - Một Tâm Hồn Trong Trắng là tác phẩm được độc giả thuộc mọi tầng lớp yêu thích nhiều nhất trong số 14 tiểu thuyết của Hardy. So với Eustacia xinh đẹp theo kiểu hoang dã, tham vọng vật chất trong Trở lại cố hương và Sue xinh đẹp trong theo kiểu trí thức, tính nết thất thường, với quan điểm mâu thuẫn về đạo đức, tôn giáo, hôn nhân trong Jude-Kẻ vô danh thì Tess Durbeyfield chỉ là một nàng thôn nữ, học hết lớp sáu trường làng, nàng xinh đẹp một cách dân dã như một đóa hoa đồng nội. Nhưng số phận thảm thương, Tess bị tử hình bằng cách treo cổ do đâm chết Alec. Số phận đen tối một cách cùng cực dù nàng chỉ có ước mơ rất tầm thường, nhỏ nhoi, rất con người: có một người chồng mà mình yêu và yêu mình, sống một cuộc sống vừa đủ, sẵn sàng làm bất cứ công việc chân tay vất vả nào. Nhưng Alec một điền chủ trẻ tuổi, phóng đãng quyến rũ và hãm hiếp từ năm nàng mới có mười sáu tuổi, sau đó lại dùng sức mạnh vật chất để chi phối nhằm mục đích sở hữu nàng như sở hữu một món đồ chơi ưa thích. Khi Tess kết hôn với Angel nàng đã thú nhận với chồng của mình về quá khứ vào đêm tân hôn. Do quan niệm quá cứng nhắc về trinh tiết và Angel nghĩ rằng mình bị lừa đã rời nước Anh đến Brazil lập nghiệp để suy nghĩ kĩ hơn về mối quan hệ vợ chồng anh.
Thông qua Tess - Một Tâm Hồn Trong Trắng, Thomas Hardy đã thẳng thắn phê phán những quan niệm cổ hủ và cứng nhắc về tín ngưỡng, đạo đức trong tình yêu và hôn nhân của thời kì Victorian. Chính vì lẽ đó mà khi nó được công bố lần đầu năm 1891 đã bị chỉ trích kịch liệt.
Khi đọc về những cuộc đời, những con người có tâm hồn mộc mạc, thiện lương, với những mơ ước đơn sơ bình dị lại gặp toàn tai ương, hoạn nạn, một mặt chúng ta xót thương, đồng cảm với họ, mặt khác, chúng ta mơ ước một xã hội trong đó những bi kịch đó không còn tái diễn. Có lẽ đó cũng là mơ ước hoài vọng của tác giả khi viết tác phẩm này.

Thần Đất - Ông Địa & Thần Tài
Sự hình thành của đất, nói rộng ra là của núi non, gò nồng, ruộng rẫ là đối tượng phản ảnh trong hầu hết các thần thoại sáng thể, và rồi đất là nơi cư trú vả nuôi dưỡng muôn loài. Do đó, đất trở thành đối tượng sủng tin của con người.
Trong phần lớn ngôn ngữ, đất có nhiều từ chỉ định, phổ biến là nhất là hai từ, ví dụ: Thổ và Địa. Ở đây, Địa là tử chỉ đất với tư cách là địa lý, địa chính, tức chi một khu vực đất có giới hạn. Còn Thổ là từ chỉ thuộc tính bản thể của đất - gọi là Thổ đức. Nó là một nguyên tố trong bộ nhân nguyên tố ngũ hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, hoặc là một đại trong tứ đại: Đất, Nước, Lửa, Gió.

Mâu Tử: Lý Hoặc Luận - Tiến sĩ Dương Ngọc Dũng (nghiên cứu và phiên dịch)
Mâu Tử (chữ Hán: 牟子) tên thật là Mâu Bác (牟博). Theo nhiều nhà nghiên cứu, thì ông là một trong số ít người đầu tiên ở nước ngoài đến Giao Châu (vùng đất miền Bắc Việt Nam ngày nay) tu học và khai truyền đạo Phật tại đây.
Trước tác nổi tiếng của Mâu Tử là cuốn Lý Hoặc Luận, viết bằng chữ Hán. Sách gồm 37 câu hỏi đáp giữa tác giả và những người theo Đạo Nho (chủ yếu) và Đạo Lão (số câu ít hơn, chỉ từ câu 29 trở đi).
"Tại Việt Nam người đầu tiên dịch trọn vẹn tác phẩm này là Lê Mạnh Thát. Là người tiên phong, ông khó tránh những sơ suất trong phiên dịch mà chúng tôi sẽ chỉ ra trong bản dịch này. Tại phương Tây, Paul Pelliot là người đầu tiên dịch trọn vẹn Lý hoặc luận sang tiếng Pháp, cũng như John Keenan dịch toàn bộ Lý hoặc luận sang tiếng Anh. Chúng tôi tham khảo một số bản dịch sang Trung văn (có sẵn trên mạng) nhưng hầu hết đều sai sót rất nhiều và không hề giải thích hay chú thích lý do tại sao lại dịch như vậy. Bản thân Mâu tử là người dùng nhiều từ cổ, cộng thêm hiện tượng sao chép nhiều lần, điều này gây khó khăn cho người dịch không ít, mặc dù ý nghĩa thì rất rõ ràng".
"Quan điểm của chúng tôi rất đơn giản và không "treo" vào quá nhiều sự kiện đòi hỏi được kiểm chứng. Nếu chấp nhận thời điểm sáng tác của Lý hoặc luận khoảng thế kỷ thứ 5 thì chẳng cần phải gắn nó với một truyền thống Phật giáo (như Pelliot và Lê Mạnh Thát) hay với một cuốn kinh (như Maspéro) vì vào thế kỷ thứ 5 tri thức Phật giáo chẳng còn xa lạ gì với Trung Quốc và mọi chi tiết liên quan đến Phật giáo trong tác phẩm Lý hoặc luận đòi hỏi phải được giải thích trên cơ sở phương pháp luận thông diễn tư tưởng Phật giáo của thời kỳ này, tức phương pháp "cách nghĩa" 格 義 mà Đạo An (314-385) và Huệ Viễn (334-416) là hai đại biểu nổi tiếng nhất". Đạo An là tăng sĩ Trung Quốc đầu tiên dùng "cách nghĩa" để giải thích tư tưởng Phật giáo. Huệ Viễn là người chủ trương "thần bất diệt luận" mà Mâu tử lập lại. Đây chính là phương pháp thuyên giải tư tưởng Phật Giáo của chính Mâu tử: dùng Nho giáo và Đạo giáo để giải thích Phật Giáo. Chúng tôi ủng hộ quan điểm cho rằng Lý hoặc luận ra đời vào thời gian này (cuối thế kỷ thứ 4 và đầu thế kỷ thứ 5)".
Thông Tin TS. Dương ngọc Dũng
TS. Dương ngọc Dũng sinh năm 1956, hiện là giảng viên khoa Quan hệ Quốc tế, trường Đại học KHoa học Xã hội và Nhân văn - TP.HCM.
Ông tốt nghiệp cử nhân Anh văn năm 1980, tốt nghiệp đại học Canberra (Úc) năm 1989, chuyên ngành giảng dạy tiếng Anh (Graduate Diploma). Tốt nghiệp Thạc sĩ ngành Đông Á học tại Đại học Harvard (Mỹ) năm 1995, tốt nghiệp Tiến sĩ ngành Tôn giáo học tại Đại học Boston (Mỹ) năm 2001, tốt nghiệp MBA của United Business Institute (Bỉ) năm 2007.
Ngoài ra, ông từng giữ những vị trí quản lý cao cấp, đào tạo và tư vấn cho những tổ chức lớn như Samsung, LG Vina, Tổng lãnh sự Mỹ, Úc, New Zealand, Bộ Kế hoạch & Đầu Tư, Bộ Tài chánh, Đài truyền hình Việt Nam, Tổng lãnh sự Singapore.
Vào năm 2016, TS. Dương Ngọc Dũng đã hướng dẫn Tổng thống Hoa Kỳ - Barack Obama thăm chùa Ngọc Hoàng.
Các tác phẩm đã xuất bản:
Kinh dịch và cấu hình tư tưởng Trung Quốc (NXB Khoa học Xã hội, 1999)
Triết giáo Đông Phương (NXB Đại học Quốc gia TP.HCM, 2003)
Lịch sử văn minh và các triều đại Trung Quốc (NXB Tổng hợp TP.HCM, 2004)
Bút kiếm Kim Dung (NXB Văn học, 2005)
Đường vào triết học (NXB Tổng hợp TP.HCM, 2006)
Tôn giáo nhìn từ viễn cảnh xã hội học (NXB Hồng Đức, 2016)

“Được dạy hãy luôn cố gắng, nhưng với tôi, đôi khi buông bỏ còn cần nhiều sức mạnh hơn cả sự theo đuổi. Được hướng dẫn làm một việc có kế hoạch, nhưng tôi nhận ta học cách đối mặt với những thứ ngoài kế hoạch còn cần thiết hơn. Được khuyên “một nghề cho chín” nhưng tôi lại tìm thấy niềm vui trải nghiệm “chín nghề”. Mọi người nói về “bảo mật thông tin”, tôi lại cho rằng dám phơi bày cuộc sống của mình như một cuốn sách mở mới là hạnh phúc. Người ta thường mở trường, viết sách dạy cách luyện trí nhớ, tôi thấy buồn vì mình chưa học được cách quên. Mẹ bảo thân trong, tôi laiij muốn tin người cho đến chết…
Nhưng, lăng kính cuộc sống mỗi người tùy chọn, không có đúng sai. Điều duy nhất quan trọng, là bạn đã sống thật vui, và không để phút giây nào hoài phí. Tôi thấy mình sống trọn vẹn nhất khi ở… sân bay. (Lời của tác giả Cúc T.)”

Không phải là một tác phẩm văn học ăn khách đưa ra thị trường. Càng không phải là những trang viết dày dặn câu chữ, thấm đẫm hình tượng văn chương nghệ thuật để làm nên tên tuổi tác giả.
Cầm cuốn sách trên tay, có thể bạn đọc sẽ đọc những trang viết bình dị này bằng linh cảm. Linh cảm về một câu chuyện kể hình như không có trình tự thời gian, không có lối dẫn dắt hấp dẫn, không có sự sắp đặt hệ thống. Bằng lối tự truyện, nhà doanh nghiệp nữ Nguyễn Thị Sơn đã phác thảo một con đường đi đầy thăng trầm của chính cuộc đời mình. Một cuộc đời cũng như bao nhiêu cuộc đời khác sống trong bối cảnh đất nước đầy biến động của thế kỷ hai mươi. Và sức cuốn hút của cuốn sách chính là ở chỗ đó.
Gia dĩ đọc sách này lại thêm một lần tự ngẫm, hình như đâu đó trên đất nước nhỏ bé này, vẫn còn nhiều lắm những con người như thế, như cái cây có thể bị gãy cành qua gió táp mưa sa, có thể bị cuốn trôi theo dòng lũ, có thể lụi tàn... để rồi một ngày nào đó những chiếc lá lại xanh, những cành cây lại trỗi dậy vươn lên dưới bầu trời.
Tôi không biết chị là ai. Chỉ đọc cuốn sách này mà trong lòng thấy cảm động. Những gì mà người nữ doanh nhân này đã đóng góp cho đất nước, xin bạn đọc hãy tự suy ngẫm và chia sẻ.
Tôi chỉ xin chia sẻ với chị về chính tác phẩm này, bởi khi đọc xong tôi thấy cái nghiệp cầm bút giản dị của mình quả cũng thật vinh quang. Bởi vì nó giúp cho chúng ta, cho tôi và chị xích lại gần nhau hơn trong cái nhân gian CHÂN THIỆN MỸ.
Hà Nội ngày 22 tháng 2 năm 2006
Nhà văn Ma Văn Kháng

Bộ sách CẨM NANG TƯ DUY này dành cho mọi bạn đọc, từ học sinh, sinh viên đến các giảng viên, các nhà nghiên cứu, doanh nhân, người đã đi làm cũng như quý phụ huynh... muốn nâng cao năng lực tư duy của mình. Học sinh, sinh viên có thể đọc cẩm nang như tài liệu tham khảo để học tốt các bộ môn; quý phụ huynh có thể sử dụng cẩm nang để vừa nâng cao năng lực tư duy của mình vừa giúp con em mình phát triển các kỹ năng tư duy cần thiết để học tốt; các giảng viên, nhà nghiên cứu có thể sử dụng cẩm nang để học tốt; các chủ đề của mình; người đã đi làm, doanh nhân... có thể áp dụng các kỹ năng, ý tưởng của cẩm nang vào công việc và cuộc sống.
Bộ sách do “The Foundation for Critical Thinking (Quỹ Tư duy Phản biện) biên soạn. Đây là một tổ chức học thuật, cung cấp nhiều “cẩm nang” về tư duy khoa học được biên soạn chặt chẽ, chắt lọc, ngắn gọn và thiết thực, đúc kết nhiều thành tựu về phương pháp trên “mẫu số chung” là khuyến khích tư duy phân tích và phản biện, cùng với các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, học tập, và nghiên cứu một cách có thực chất, có chiều sâu và dễ dàng áp dụng vào cuộc sống.

Chứng Cứ Điện Tử Trong Thực Hiện Pháp Luật
Dữ liệu điện tử được Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Luật Cạnh tranh năm 2018 xem là nguồn của chứng cứ. Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã giải thích hàng loạt các khái niệm có liên quan đến dữ liệu điện tử, quan trọng hơn, luật này quy định địa vị pháp lý dùng làm chứng cứ của các sản phẩm được tạo thành từ dữ liệu điện tử như: Giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu, giá trị pháp lý của chứng thư điện tử, giá trị pháp lý của chữ ký điện tử, chữ ký số, dấu thời gian, giao kết điện tử và hợp đồng điện tử; tạo điều kiện cho việc ra đời một loại chứng cứ mới có nguồn từ dữ liệu điện tử, mà ta gọi là chứng cứ điện tử.
Tuy nhiên, trong quá trình thực thi pháp luật có liên quan đến chứng cứ điện tử còn gặp phải rất nhiều vấn đề khó khăn, trước mắt là về nhận thức, thu thập, đánh giá, chấp nhận và sử dụng chứng cứ điện tử. Cuốn sách này nhằm giải quyết một cách cơ bản nhất các vấn đề nhận thức chung về chứng cứ điện tử, thu thập, đánh giá, chấp nhân và sử dụng chứng cứ điện tử, trong điều kiện có liên hệ đến hệ thống pháp luật Việt Nam thực tiễn áp dụng. Cuốn sách này được viết mang tính tổng quan, với các vấn đề được giải quyết ở mức độ cơ bản nhất.

Ý Và Tình
Hôm nay tình cờ mà cậu phải đứng lâu giữa đồng, đứng rồi tự nhiên ngó chơi mấy việc của nông phu đương làm, cậu ngó một hồi sanh cảm, trí bắt đầu nghĩ đến sự sống của kẻ ở chốn thôn quê. Từ đứa nhỏ cỡi trâu kia, cho tới đám đàn bà cấy lúa nầy, tới mấy anh đàn ông đứng trục và nhổ mạ đó, mỗi người đều dãi nắng dầm mưa cả năm, mọi người đều cực thân nhọc xác tối ngày, mà coi bộ ai ai cũng vui vẻ hăng hái, cực mà chẳng hề than phiền, nhọc mà chẳng hề thối chí… … Rõ ràng nông phu nước mình là hạng người vui vẻ mà chuyên cần lao, tận tụy với nghề nghiệp, sống thác với vườn ruộng, ai giàu sang mặc ai, ai khôn khéo mặc ai, miễn là mình an phận thủ thường, lòng bình tịnh, trí thơ thái thì thôi. Con người mà có đức tánh như vầy, thì sự sống tự nhiên vui vẻ khỏi buồn, khỏi lo, lại có thể giúp nhà thêm giàu, nước thêm mạnh…

Sách Tham Khảo Tiếng Trung - Tập 1 (Đọc Hiểu Và Dịch Thuật Chuyên Sâu)
Đây là cuốn sách hỗ trợ đọc hiểu và dịch thuật chuyên sâu tiếng Trung được biên soạn một cách chi tiết tỉ mỉ để hỗ trợ cho người học trong việc cúng cố, tích lũy từ vựng.
Sách đã được kiểm duyệt nội dung, phân tích rất chi tiết và dễ hiểu.

Tiền Bạc Bạc Tiền
Tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh bao quát những mảng hiện thực, những nét văn hóa đặc trưng của Nam bộ vào những thập niên đầu thế kỷ XX. Đó là sự tha hóa của con người trong sự lớn lên vùn vụt của đầu óc trọng thương, là số phận đáng thương của những thường dân rơi vào cảnh cùng quẫn, là những câu chuyện thế sự giàu chất nhân văn của những con người trên vùng đất mới...
Ông đã để lại cho văn học Việt Nam một gia tài đồ sộ với hơn một trăm quyển tiểu thuyết, truyện ngắn, biên khảo... Với lối viết bình dị, ngôn ngữ gần lời nói thường ngày, tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh luôn được nhiều thế hệ người dân Nam bộ đón nhận bằng một tình cảm đặc biệt trân trọng.

Dây Oan
Tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh bao quát những mảng hiện thực, những nét văn hóa đặc trưng của Nam bộ vào những thập niên đầu thế kỷ XX. Đó là sự tha hóa của con người trong sự lớn lên vùn vụt của đầu óc trọng thương, là số phận đáng thương của những thường dân rơi vào cảnh cùng quẫn, là những câu chuyện thế sự giàu chất nhân văn của những con người trên vùng đất mới...
Ông đã để lại cho văn học Việt Nam một gia tài đồ sộ với hơn một trăm quyển tiểu thuyết, truyện ngắn, biên khảo... Với lối viết bình dị, ngôn ngữ gần lời nói thường ngày, tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh luôn được nhiều thế hệ người dân Nam bộ đón nhận bằng một tình cảm đặc biệt trân trọng.

Quá Trình Phi Thực Dân Hóa Và Con Đường Đi Lên Xã Hội Hiện Đại Của Các Dân Tộc Á, Phi Và Mĩ Latinh Thế Kỉ XX - Đầu Thế Kỉ XXI
Sau các cuộc phát kiến địa lí là bắt đầu quá trình chủ nghĩa thực dân phương Tây tiến hành xâm chiếm các nước Á, Phi và Mĩ Latinh. Quá trình này được đẩy nhanh vào giai đoạn chủ nghĩa tự do cạnh tranh chuyển lên giai đoạn độc quyền. Ngay từ khi bị xâm lược, nhân dân Á, Phi và Mĩ Latinh đã đứng lên đấu tranh chống thực dân xâm lược và sau đó là tiến hành chiến tranh giải phóng dân tộc. Thế nhưng trước thế kỉ XX, thậm chí những thập niên đầu thế kỉ này, các cuộc vùng dậy đòi độc lập, về căn bản, đều không đi tới kết quả cuối cùng. Phải đến thế kỉ XX, đặc biệt từ năm 1945 trở đi, phong trào đấu tranh giành độc lập của các dân tộc bị áp bức ngày càng trở nên quyết liệt, nhân dân các nước Á, Phi và Mĩ Latinh lần lượt giành được nền độc lập của mình, trước hết là độc lập về chính trị. Đến cuối thế kỉ XX, các vùng đất thuộc địa của thực dân phương Tây đã bị xóa bỏ, nhân dân Á, Phi và Mĩ Latinh có được nền độc lập về chính trị, thực sự trở thành người làm chủ đất nước. Vì vậy, thế kỉ XX được coi là thế kỉ của phong trào giải phóng dân tộc. Sau khi có được nền độc lập, nhân dân Á, Phi và Mĩ Latinh bước vào thời kì phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng xã hội hiện đại để có được nền độc lập thực sự và trọn vẹn.
(GS. TS. NGND. Đỗ Thanh Bình)

Cư Kỉnh
Tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh bao quát những mảng hiện thực, những nét văn hóa đặc trưng của Nam bộ vào những thập niên đầu thế kỷ XX. Đó là sự tha hóa của con người trong sự lớn lên vùn vụt của đầu óc trọng thương, là số phận đáng thương của những thường dân rơi vào cảnh cùng quẫn, là những câu chuyện thế sự giàu chất nhân văn của những con người trên vùng đất mới...
Ông đã để lại cho văn học Việt Nam một gia tài đồ sộ với hơn một trăm quyển tiểu thuyết, truyện ngắn, biên khảo... Với lối viết bình dị, ngôn ngữ gần lời nói thường ngày, tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh luôn được nhiều thế hệ người dân Nam bộ đón nhận bằng một tình cảm đặc biệt trân trọng.

Việt Nam Y Ký
… Các bạn sẽ bắt gặp hành trình từng ngày, suy nghĩ, cảm xúc từng ngày, lúc thật buồn và bất lực, lúc thật vui của một con người, một vị bác sĩ với những ý tưởng ngộ nghĩnh, lạ lùng đầy tưởng tượng, kể cả lãng mạn, bi – hài đan xen. Tác giả diễn đạt đơn giản về khoa học của sự sống, về chống chọi với bệnh tật, với dịch bệnh, thể hiện tấm lòng, nỗi lo âu của người thầy thuốc, lúc hết sức khẩn trương, lúc trầm lắng, lúc chia sẻ với mọi người để cuộc sống tốt đẹp hơn trong hoàn cảnh cách ly vô cùng khắc nghiệt, thiếu thốn mọi bề; luôn tận tâm tận lực lo cho sức khỏe người bệnh hồi phục, thấp thỏm mong đợi dịch bệnh sớm qua đi tuy “không chắc chắn” nhưng “luôn kỳ vọng”.
Từng trang sách thắm đượm lòng nhân ái, tình bạn, tình yêu của anh đối với Việt Nam, trong lúc cùng cực vẫn thắp sáng niềm tin, hết bão tố rồi bình an; Việt Nam có truyền thống yêu nước thương nòi từ thuở Hùng Vương dựng nước Văn Lang. Anh thấu hiểu được những điều đó, cũng chính là động lực để anh viết nên quyển sách này.
(trích Lời giới thiệu)

Tứ Ân Đạo Phật Ở Tây Nam Bộ
Cuốn sách Tứ Ân Đạo Phật ở Tây Nam Bộ là một phần kết quả nghiên cứu từ đề tài cấp Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2022 - 2024: "Phong trào các ông Đạo ở Nam Bộ từ thế kỷ 19 đến nửa đầu thế kỷ 20 từ góc nhìn khu vực học" (mã số B2022-16-02) đã được thực hiện dưới sự chủ nhiệm của TS. Nguyễn Trung Hiếu, giảng viên Khoa Du lịch & Văn hóa - Nghệ thuật, Trường Đại học An Giang - ĐHQGTPHCM và nhóm nghiên cứu là giảng viên Khoa Văn hóa học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TPHCM.
Tứ Ân Đạo Phật ra đời năm 1947, được sáng lập dựa trên nền tảng tư tưởng giáo lý của Bửu Sơn Kỳ Hương (ra đời năm 1849) và tư tưởng Phật giáo. Trong lịch sử, tôn giáo này có nhiều đóng góp lớn trong việc khẩn hoang lập làng ở An Giang và Kiên Giang; đóng góp tích cực vào việc ổn định đời sống vật chất cho người dân Tây Nam Bộ ở giai đoạn lịch sử xã hội có nhiều biến động. Hiện nay, cộng đồng tín đồ Tứ Ân Đạo Phật tích cực tham gia các hoạt động từ thiện xã hội ở địa phương. Do vậy, nghiên cứu về Tứ Ân Đạo Phật sẽ làm nổi bật mối quan hệ giữa đời sống tôn giáo và đời sống xã hội của tín đồ trong suốt diễn trình ra đời và tồn tại đến ngày nay.
Đặt trong từng thời điểm lịch sử - giai đoạn Tứ Ân Đạo Phật ra đời hay giai đoạn hiện nay, Tứ Ân Đạo Phật là nguồn lực tinh thần khỏa lấp khoảng trống trong tâm thức con người, hình thành nên giá trị văn hóa mới ở vùng đất Tây Nam Bộ. Đó là giá trị thụ dung đa tầng văn hóa tồn tại ở vùng đất Tây Nam Bộ vào một tôn giáo, làm cho tôn giáo cộng sinh hài hòa với các tôn giáo khác; khác biệt và độc đáo so với các tôn giáo nội sinh trước đó mà Tứ Ân Đạo Phật ảnh hưởng. Đó còn là giá trị tư tưởng đạo đức tôn giáo mà tín đồ đóng góp cho xã hội từ khi ra đời đến nay. Từ đó cho thấy Tứ Ân Đạo Phật tạo nên một hệ giá trị văn hóa trong bức tranh đa dân tộc và tôn giáo vùng Tây Nam Bộ.
Chuyên khảo này đề cập những nội dung chính như sau:
Chương 1: Lý luận về tôn giáo, giáo phái mới và hoàn cảnh ra đời của Tứ Ân Đạo Phật.
Chương 2: Lịch sử hình thành, phát triển và hệ thống tổ chức hoạt động của Tứ Ân Đạo Phật.
Chương 3: Phương thức tu hành và tư tưởng giáo lý của Tứ Ân Đạo Phật.
Chương 4: Đặc trưng thờ phụng của Tứ Ân Đạo Phật.
Chương 5: Hệ thống nghi lễ và lễ cúng của Tứ Ân Đạo Phật.
Chương 6: Ảnh hưởng của tôn giáo đến đời sống tinh thần và đời sống vật chất của tín đồ.
Chương 7: Ảnh hưởng của tôn giáo trong đời sống xã hội, và dự báo về hoạt động của cộng đồng tín đồ Tứ Ân Đạo Phật trong tương lai.

Từ Nguyên
Thuật ngữ "Từ nguyên học" có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp "etimologia", có nghĩa là "cách nói đúng", hoặc "nghĩa đúng của một từ". Theo cách hiểu thông dụng, từ nguyên học, một phân ngành của ngôn ngữ học lịch sử, nghiên cứu về lịch sử của các từ, nguồn gốc của chúng; những hình thái, ngữ nghĩa gốc bị lu mờ trong ngôn ngữ đương thời...
Vì vậy, nghiên cứu từ nguyên là một công việc nghiêm túc, không thể tiến hành ngẫu hứng dựa trên suy luận chủ quan thuần túy, mà đòi hỏi nhà nghiên cứu phải có phương pháp khoa học được xây dựng dựa trên những tiêu chí chặt chẽ.
Có thể nói, ngành từ nguyên học vốn không có nhiều người dấn thân, nếu có, thì thời gian họ dành cho việc nghiên cứu cũng gián đoạn, rời rạc... Học giả An Chi là người hiếm hoi trong số đó, đã dành khoảng thời gian dài xuyên suốt với việc truy tìm nguồn gốc đến các nguyên từ, mà ông thích gọi công việc đó là "rong chơi miền chữ nghĩa", nhưng với một tinh thần khoa học nghiêm túc, không hề ngẫu hứng đưa ra những suy luận thuần túy chủ quan...

Hệ Giá Trị Việt Nam Từ Truyền Thống Đến Hiện Đại
Giải pháp duy nhất không thể trốn tránh là phải sớm xây dựng văn hóa để phát triển dựa trên nền tảng của một hệ giá trị Việt Nam mới.
Việc xây dựng hệ giá trị Việt Nam mới đòi hỏi không phải là nhắc lại một số phẩm chất tưởng như là giá trị truyền thống điển hình (như yêu nước, cần cù, sáng tạ) mà là cần phải tập trung vào gây dựng và phát triển những giá trị mà xã hội và con người Việt Nam còn thiếu (như Pháp quyền, Trung thực, Bản lĩnh, Hợp tác, Tĩnh khoa học), hoặc có ở mức rất thấp (như Dân chủ, Trách nhiệm), hoặc có nhưng cần điều chỉnh nội hàm (như Yêu nước không chỉ thể hiện trong chiến tranh chống ngoại xâm, mà quan trọng là thể hiện trong xây dựng hòa bình, giữ gìn quốc thể; Sáng tạo không chỉ là linh hoạt biến báo, mà còn phải nâng lên tấm sáng tạo phát minh; Nhân ái không chỉ là yêu quý những người quen biết mà phải chống bệnh vô cảm, yêu quý cả những người không quen biết), hoặc có nhưng đang có nguy cơ mai một (như Nhân ái).
Có thể khẳng định rằng chừng nào mỗi người dân và mỗi cộng đồng người Việt Nam còn chưa đủ trung thực và bản lĩnh nhìn thẳng vào những tật xấu của mình để khắc phục, mà vẫn còn ưa nịnh, thích được khen, chạy theo lợi ích cá nhân, cục bộ mà lừa đối nhau và tự dối mình thì mãi mãi vẫn chỉ là một dân tộc chưa trưởng thành, dù có tự hào về “lịch sử hàng nghìn năm".

Con Em Chúng Ta Học Gì Trong Nhà Trường?
Hẳn những ai đã và đang có con em đi học đều có chung mối quan tâm là con em chúng ta học gì và học thế nào trong nhà trường. Chúng ta còn muốn biết nhiều hơn về việc học, việc sinh hoạt, các ứng xử, các mối quan hệ và nhiều hoạt động khác của con trong lớp, trong trường. Chúng ta muốn biết không chỉ vì lòng yêu thương con vô bờ mà còn vì qua đó có thể phối hợp, chia sẻ với nhà trường trong việc dạy con học, cũng như có thêm những cách giúp con học tốt hơn.
Chúng ta có thể cảm nhận rằng, sự hiểu biết, thông cảm và trợ lực lẫn nhau trong việc giáo dục trẻ giữa nhà trường và phụ huynh vẫn là vấn đề then chốt trong lĩnh vực giáo dục. Trong đó, thầy và trò đóng vai trò là nhân tố trực tiếp thúc đẩy sự phát triển trong môi trường giáo dục…
Theo Áo Trắng

Binh Pháp Gia Truyền Thư
"Nước phản chiếu bóng trăng, gương in hình bóng người. Sự vật đều được chiếu bóng ở trong nhân tâm, giống như ánh trăng được chiếu bóng vào trong nước, là sự phản ánh của khoảnh khắc. Vị trí của kiếm thân diệu phảng phất như là mặt nước, còn tâm của ngươi có thể so với ánh trăng. Vị trí của kiếm thần diệu có thể được phản bóng ở trong tâm. Tâm động, hình động; hình theo tâm mà động". - Yagyū Munenori
Binh pháp gia truyền thư của Yagyū Munenori là cuốn sách kinh điển về nghệ thuật chiến đấu của người Nhật Bản. Không chỉ đơn thuần bàn về kỹ thuật chiến đấu tay đôi giữa kiếm sĩ mà cuốn sách còn đề cập nhiều khía cạnh khác trong khi tác chiến như chiến thuật, chiến lược, tâm lý, và đạo đức. Thậm chí người đời nay còn học được từ đó nhiều bài học hữu ích, đó là sự tập trung và kiên trì trong rèn luyện; là việc tìm hiểu và ứng biến trước mọi biến cố đối thủ có thể đưa đến; là đạo đức và tinh thần của chiến binh thực thụ; là năng lực kiểm soát cảm xúc và tâm lý trong quá trình tham chiến; là kỹ năng giải quyết vấn đề khi gặp trường hợp bất trắc; và hơn hết là hiểu và tôn trọng chính mình lẫn đối thủ.
Yagyū Munenori (1571-1646) là kiếm sĩ nổi tiếng Nhật Bản. Sinh ra trong gia tộc được nhiều người gọi là gia tộc tình báo hoạt động ngầm trong các hoạt động gián điệp, nên ông được học kiếm thuật từ nhỏ. Ông là người sáng lập phái Shinkage, cũng là thầy dạy binh pháp, quân sự cho tướng quân Tokugawa Iemitsu. Sau đó ông trở thành daimyo, và lãnh chúa đầu tiên của vùng Yamoto Yagyu. Ông qua đời vì bệnh tật tại Azabu, Edo.
Munenori có rất nhiều đệ tử đảm nhiệm nhiều chức trách khác nhau, từ tướng quân cho đến các daimyo. Munenori coi kiếm cứu người là lý tưởng của binh pháp, ngay từ đầu không sử dụng vũ lực thì tốt hơn, nhưng nếu phải sử dụng vũ khí để loại bỏ một người mà cứu được cho cả vạn người thì cũng đáng.

Khí Chất Nam Bộ Qua Truyện Sơn Nam
"Để thực hiện đề tài này, ngoài kiến thức Lý luận Văn học và Văn học sử, tác giả còn phải tự bồi dưỡng cho mình kiến thức về Văn hóa học đại cương và Văn hóa vùng Nam bộ. Trong quá trình này, tác giả đã rất chủ động và tích cực, đảm bảo các yêu cầu đặt ra về mặt nội dung và phương pháp. Tác giả đã bao quát một khối lượng tư liệu khá lớn, đặc biệt là các tác phẩm truyện ngắn, truyện dài vốn rất phong phú của Sơn Nam. Chị đã trực tiếp gặp gỡ và tìm hiểu nhà văn và nhiều người cùng thời am hiểu sáng tác của ông để bổ sung vào kho tư liệu về Sơn Nam."
(trích lời nhận xét của GS. TS. Huỳnh Như Phương)
"Thế ứng xử của con người phương Nam trước tự nhiên và trong xã hội biểu hiện từng lúc khác nhau, nhưng cái hồn Việt Nam luôn nhất quán đằng sau những câu chuyện Sơn Nam kể lại, minh chứng cho dòng chảy văn hóa Việt Nam vẫn xuôi về biển lớn của một nền văn minh lớn trên thế giới, dẫu có phải vượt qua thác ghềnh lịch sử. Văn hóa đặc trưng Nam bộ mang một sắc màu đặc biệt trên bức tranh tổng thể văn hóa Việt, là khúc biến tấu ngọt ngào trong bản nhạc văn hóa Việt Nam được viết từ buổi bình minh lịch sử." (trích Chương 2)

Trọn Bộ Ngữ Pháp Tiếng Anh Cho Mọi Kỳ Thi
Đây là “Bách khoa toàn thư” về ngữ pháp Tiếng Anh.
Sách gồm 2 phần:
Phần 1: Toàn bộ ngữ pháp tiếng Anh được hệ thống trong 24 chuyên đề. Các chuyên đề được giải thích một cách khoa học, rõ ràng, cụ thể. Sau mỗi chuyên đề có bài tập vừa tự luận vừa trắc nghiệm từ cơ bản đến nâng cao nhằm giúp các em luyện tập và củng cố kiến thức.
Phần 2: Gồm 10 bài thực hành (Practice Tests). Mỗi Test có 50 câu trắc nghiệm, tổng hợp tất cả kiến thức ngữ pháp đã học.
Chắc chắn cuốn sách sẽ giúp các em học ngữ pháp một cách có hệ thống, đơn giản, dễ dàng và hiệu quả hơn bao giờ hết.

Bác Hồ Với Công Tác Văn Phòng, Văn Thư Và Lưu Trữ
Cuốn sách này gồm 2 phần:
Phần thứ nhất, từ những chỉ dẫn trong nhiều bài viết của Bác Hồ, được tác giả lựa chọn một cách kỹ lưỡng và lần lượt phân tích, làm sáng tỏ những nội dung cơ bản của công tác văn phòng, văn thư, lưu trữ mà những người được phân công làm công việc này trong các cơ quan Đảng, Nhà nước cũng như các doanh nghiệp đều cần nắm vững.
Phần thứ hai là tập hợp một số bài viết của Bác Hồ có liên quan đến công tác văn phòng, văn thư và lưu trữ như: óc tổ chức công việc trong hoạt động của Ủy ban nhân dân các cấp, về chống thói ba hoa, bệnh quan liêu, nạn giấy tờ, về cần kiệm liêm chính… Bác Hồ nói những điều đó trong nhiều hoàn cảnh lịch sử khác nhau nhưng đến tận ngày nay vẫn còn nguyên giá trị thời sự, nhất là khi công cuộc cải cách nền hành chính ở nước ta đang được đẩy mạnh để làm cho hoạt động quản lý nhà nước hiệu quả hơn. Bằng cách dẫn ra những lời nhắc nhở của Bác Hồ và những thành tựu nghiên cứu của nhiều nhà khoa học về công việc văn phòng, tác giả đã giúp người đọc hiểu một cách đầy đủ hơn về những công việc thầm lặng, nhưng rất có ý nghĩa thuộc lĩnh vực văn phòng, văn thư và lưu trữ.

Cái Vội Của Người Mình
Cuốn sách này lấy tên là “Cái vội của người mình” cũng là để quán triệt tinh thần một cái nhìn dựa hẳn vào những quan sát từ đời sống hàng ngày nhưng đã cố gắng bước đầu vươn lên những khái quát cần thiết.
Việc viết về những điều tốt đẹp đã là nội dung chủ yếu trong các công trình của các nhà văn nhà báo khác, phần những người chuyên đi vào thói hư tật xấu như tôi thì độ dăm bảy phần trăm. Và chăng khi đi sâu vào thói hư tật xấu, thật ra tôi có tìm hiểu rộng hơn các mặt tích cực của tính cách dân tộc.
Nội dung các phần:
Phần 1: Những thói hư tật xấu bộc lộ trong làm ăn kiếm sống, đi lại, các hoạt động nghề nghiệp
Phần 2: Những bất cập trong thói quen sinh hoạt, trong đời sống tinh thần mỗi cá nhân, trong các mối quan hệ người với người hàng ngày
Phần 3: Những di lụy quá khứ đồng thời trong mỗi thói hư tật xấu đều mang dấu vết thời đại
Phần 4: Những hạn chế kéo dài trong tổ chức và quản lý xã hội
Phần 5: Nhìn thói hư tật xấu ở tầm khái quát để dần dần tiến tới cách khắc phục có hiệu quả.

Con Nhà Giàu
Nội dung tác phẩm xoay quanh những mưu kế suy tín trong gia đình để chia tài sản và cuộc đời của công tử Chừng Thượng Tứ ham chơi, đua đòi, và thói tiêu tiền như nước, trở thành kẻ “phá gia chi tử”.
"Đi chơi bời thì ai nấy không vui lòng, nói đi chơi phải hư nhà hại thân. Muốn hòa hiệp với vợ, thì vợ không bằng lòng, nói không dám cãi lịnh cha mẹ. Tính ở phải với người nghèo khổ, thì vợ lại không chịu dự, nói làm như vậy là trái đời. Làm người có tiền sẵn mà không được xài đồng tiền, có vợ sẵn mà không được ở với vợ, muốn làm phải cũng không được làm, thế thì cái thân khốn nạn nầy trời sanh ra để giữ tiền bạc, phải chịu cảnh quạnh hiu, phải chiều phong tục cho đến mãn đời mãn kiếp hay sao?"

Con Nhà Nghèo
Cuốn sách này lấy tên là “Cái vội của người mình” cũng là để quán triệt tinh thần một cái nhìn dựa hẳn vào những quan sát từ đời sống hàng ngày nhưng đã cố gắng bước đầu vươn lên những khái quát cần thiết.
Việc viết về những điều tốt đẹp đã là nội dung chủ yếu trong các công trình của các nhà văn nhà báo khác, phần những người chuyên đi vào thói hư tật xấu như tôi thì độ dăm bảy phần trăm. Và chăng khi đi sâu vào thói hư tật xấu, thật ra tôi có tìm hiểu rộng hơn các mặt tích cực của tính cách dân tộc.
Nội dung các phần:
Phần 1: Những thói hư tật xấu bộc lộ trong làm ăn kiếm sống, đi lại, các hoạt động nghề nghiệp
Phần 2: Những bất cập trong thói quen sinh hoạt, trong đời sống tinh thần mỗi cá nhân, trong các mối quan hệ người với người hàng ngày
Phần 3: Những di lụy quá khứ đồng thời trong mỗi thói hư tật xấu đều mang dấu vết thời đại
Phần 4: Những hạn chế kéo dài trong tổ chức và quản lý xã hội
Phần 5: Nhìn thói hư tật xấu ở tầm khái quát để dần dần tiến tới cách khắc phục có hiệu quả.

Từ Hôn
Theo thói thường, con người hồi còn nhỏ thì phải đi học, chừng lớn khôn, con trai thì cưới vợ, con gái thì lấy chồng, rồi như giàu thì ở không đi chơi, còn như nghèo thì vợ chồng phải làm cực khổ đang kiếm tiền mà nuôi nhau. Trong ít năm sanh con đẻ cháu cả bầy, gánh gia đình mỗi ngày một thêm nặng. Những sự nghiệp mình đổ mồ hôi, xót con mắt, chai đầu gối, nát trí khôn, mà gây dựng ra đó, nó phưởng phất như khói bay rồi tan mất hết. Cái đường đời của con người từ xưa đến nay thì như vậy đó, có chỗ gì hay đâu mà mình phải đuổi theo hoài. Mình phải tìm cái đường khác mà đi, cho thân mình khỏi cực khổ, cho trí mình được thơ thới, tính như vậy có phải là dở hơn thiên hạ đâu chị.

Tranh Dân Gian Nam Bộ
Tranh dân gian Nam bộ là đối tượng chưa được nhiều người nghiên cứu. Chính vì vậy đây chỉ là một sưu tập các mảng tranh thuộc nhiều thể loại khác nhau mà chúng tôi gom góp được trong hàng chục năm qua. Nội dung sưu tập gồm:
I. Tranh mộc bản
II. Tranh minh họa vẽ trên giấy
III. Tranh cuộn Phật giáo
IV. Tranh kiếng
V. Tranh gói
Nói chung, sưu tập tranh dân gian Nam bộ chủ yếu là tranh thờ, là vật phẩm cúng tế hay trần thiết các đàn lễ thực hành khoa nghi của nhà Phật và minh họa các văn bản chiêm đoán vận mệnh mà ngày nay chúng được liệt vào mê tín. Chính vì vậy chúng khó được coi là tác phẩm mỹ thuật theo đúng nghĩa của từ này. Song đây là những di vật của thành tựu hội họa của một thời quá vãng mà đến nay, ngoài chúng ra thì thế hệ hậu bối chúng ta không thể truy tầm được một dấu tích nào khác của cái gọi là thành tựu mỹ thuật của các thế hệ cha ông ở vùng đất phương Nam này.

Tiếng Việt Cắc Cớ Cũng Cứng Cựa
Chắc chắn sâu thẳm tâm hồn người Việt, bao giờ cũng tồn tại một tình yêu thiêng liêng dành cho tiếng Việt. Có những lúc dù sử dụng ngôn ngữ khác, người Việt cũng thấu hiểu thông tin đó, nhưng phải là tiếng Việt thì mới chạm đến tận cùng chân tơ kẽ tóc của xúc cảm.
Trên trái đất này, mọi ngôn ngữ đều bình đẳng và chỉ có người bản địa mới có thể cảm nhận được mọi sắc thái của từ đó. Ngay từ lúc lọt lòng mẹ, con người ta cũng đã cảm nhận được tình yêu ấy trong máu thịt của mình. Tập sách này là những gì tôi đã hiểu về tiếng Việt.

Lời Nguyện Cầu Cho Những Linh Hồn Phiêu Dạt
“Chiến tranh không chỉ là những đoàn quân ra trận; những bản tổng kết rực rỡ hay những huân, huy chương rạng ngời. Đối với những người lính, họ nhìn chiến tranh bằng cặp mắt khác. Họ soi rõ ngọn ngành từng vụ việc, từng cái chết, từng lần chết hụt, từng chuyện đau lòng. Và chỉ có những người lính chiến mới có thời gian và tâm trạng nhìn từng sự việc nhỏ như vậy.
Có những câu hỏi không ai muốn trả lời. Có những câu chuyện buồn không ai muốn gợi lại. Nhưng một cuộc sống trung thực và can đảm không cho phép chúng ta sống hời hợt, đại khái. Một thái độ sống chân chính đòi hỏi chúng ta phải sống kỹ với từng chi tiết của quá khứ, của ký ức”.
(Trích nội dung sách Lời nguyện cầu cho những linh hồn phiêu dạt)
Lời tác giả
"Tôi có thể khẳng định với bạn, dù bạn biết nhiều danh lam thắng cảnh, dù bạn thưởng thức nhiều món ăn hảo hạng, nhưng không có gì thú vị bằng việc được khám phá những điều kỳ lạ về cuộc đời và số phận của con người, nhất là những người từ chiến trận trở về" - Đoàn Tuấn

Gia Đình - Những Nỗi Đau Ngọt Ngào
Gia đình giống như một vũ trụ thu nhỏ, nơi chúng ta học cách trở thành thành viên của xã hội lớn. Tất nhiên không có gia đình hoàn hảo và cũng không có xã hội hoàn toàn tốt đẹp mà nhiều khi cũng có những va chạm, có những tổn thương và xáo trộn.
Cuộc sống gia đình có thể là thiên đường, cũng có thể là địa ngục. Tập truyện có tựa chung là “Gia đình, những nỗi đau ngọt ngào” trong đó có cả tình yêu và nước mắt, vì gia đình là nơi êm ấm nhất nhưng nếu thiếu “tình” thì sẽ mang lại cho ta rất nhiều đau khổ. Nhưng tình yêu không phải là một sản phẩm được đóng gói để sẵn sàng được sử dụng. Nó được giao cho chúng ta chăm sóc, nó cần những nỗ lực liên tục để được tái tạo và hồi sinh mỗi ngày.
Sống ở đời, không ai có thể cạn tình cạn nghĩa, nhất là với những người thân. Nếu chúng ta bớt sân si, bớt nghiệt ngã, biết lấy yêu thương và lòng tử tế bao dung mà cư xử với nhau thì mới có thể có một gia đình êm ấm.
Tình yêu nhiều khi cũng trói buộc và làm khó dễ con người. Nhưng nếu hoàn toàn xóa bỏ, nó sẽ gây cho ta một nỗi day dứt, băn khoăn không thể nào nguôi.

Nam Kỳ Qua Tân Văn Tuần Báo (1934-1936)
“An Nam thiếu cái óc tương-trợ nhau trong sự kinh dinh lập nghiệp. Vì vậy nên ít có công cuộc gì lớn lao phát hiện được! Có chăng sở dĩ cũng là do nơi nghị lực tài sức của một người làm ra chớ không phải là nơi sự hội-hiệp nhau hay ở nơi tình đoàn thể gì. Như vậy nên những công cuộc lớn lao có tánh cách xã-hội như Bịnh-viện Saigon đây lại còn đáng tưởng lệ, để dốc sức nhơn tài trong nước”.
“Bệnh viện của An-nam - Clinique de Saigon của bác-sĩ Lê Hung Long”
X.Y.Z
[...]
“Âm nhạc là triệu chứng của vận mạng một nước, tiêu biểu cho quốc hôn, quốc túy, có cái dẫn dụ lực hoán cải nhơn tâm thế đạo. Các nhà hiển-triết xưa nay đều công nhận như thế. Lóng tai nghe âm-nhạc của nước nào ta có thể đoán biết cảnh thể suy vong, hay cường thạnh của nước ấy”.
“Luận về âm nhạc nước nhà”
Trần Quang Quờn

Nhân Tình Ấm Lạnh
… Thiệt quả, nhà Lâm Yên trưng rực rỡ, trước sân cất một cái rạp, ngoài treo cờ, trong thắt bông, khách khứa đông đầy, trẻ nhỏ trửng rần rật. Cô ngồi khoanh tay ngó hoài, không nói chi hết. Cách chừng nửa giờ đồng hồ, cô nghe con nít chạy la: “Rước dâu về” om sòm, rồi thấy xe hơi liên tiếp nhau tới, ngừng ngay trước cửa Lâm Yên. Thủ Hiệp đầu bịt khăn nhiễu đen, áo rộng mình xanh lót đỏ, trên xe vén áo bước xuống đưa tay vịn cho nàng dâu xuống xe…
—
Tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh bao quát những mảng hiện thực, những nét văn hoá đặc trưng của Nam Bộ vào những thập niên đầu thế kỷ XX. Đó là sự tha hoácuar con người trong sự lớn lên vùn vụt của đầu óc trọng thương, là số phận đáng thương của những thường dân rơi vào cảnh cùng quẫn, là những câu chuyện thế sự giàu chất nhân văn của những con người trên vùng đất mới…

Hạt Bụi Lênh Đênh
Trong các câu chuyện kể của Elena, ta cảm nhận sự biến chuyển không ngừng của tâm thức dù là trong im lặng. Ngần ấy trang viết chan chứa những tình cảm sâu lắng về tình yêu, về số phận con người, về sự mong manh vô thường của kiếp người. Elena diễn tả tất cả triết lý nhân sinh bằng một bút pháp nhẹ nhàng dung dị nhưng tràn đầy cảm xúc, sâu lắng và không kém phần uyên áo trong tư duy của một ngòi viết am hiểu những nguyên lý căn bản về đạo Phật.
Và Elena đã trân trọng mô tả, ghi chép lại tất cả tình yêu thương dành cho gia đình, công việc, cộng đồng và thế giới xung quanh bằng trí tuệ mẫn tiếp và ngòi bút tài hoa của mình. Hãy đọc “Hạt bụi lênh đênh” và cảm nhận tinh thần ấy.

Vua Chúa Việt Nam Và Những Điều Chưa Biết
Cuốn sách là tập hợp những câu chuyện như vậy để hầu chuyện bạn đọc, từ những câu chuyện “quốc gia đại sự” như “Thời xưa nước ta gọi vua là gì?”, “Quy định trang phục, lễ nhạc khi vua thiết triều ra sao?", đến những câu chuyện độc đảo khi vua chúa xử lý công việc triều chính, các trường hợp nhà vua “bổ nhiệm thần tốc” bề tôi vì nhận thấy tài năng vượt trội, quan điểm của các vị vua về phong thủy, hay vua chúa nước ta xây hành cung thế nào, còn có cả việc bảo vệ an toàn của vua...
Bên cạnh đó là những khía cạnh về đời sống riêng tư của các vị vua, mô tả dung mạo của các vị vua chúa Việt, vua nào được sử sách mô tả là “mặt rỗng”, “dáng rộng”, vua nào được sứ thần nước ngoài khen là.... đẹp trai? Cùng độc giả giải đáp những thác mác như khi đi đánh trận, vua ăn gì? Vua uống rượu ra sao, những vua nào mê rượu? Khi du hành vua đi bằng phương tiện gì? Lúc còn trẻ vua phải học hành thế nào? Những vị vua Việt nào mắc bệnh lạ, đó là loại bệnh gì?....
Lọc từ sử sách, cũng không hiếm những câu chuyện đọc lại vẫn thấy mang tính thời sự như các vị vua nước ta xưa chống tham nhũng thể nào? Các vị vua dùng cách nào để ngăn nhân dân đánh bạc, khi có dịch bệnh lan truyền vua chỉ đạo xử lý thế nào? Hay chuyện các vị vua Việt rèn luyện thân thể bằng cách nào cũng ít người biết đến.
Mong rằng cuốn sách này sẽ là một món ăn nuôi dưỡng niềm yêu thích lịch sử và niềm tự hào dân tộc cho độc giả, đặc biệt là dành tặng cho những cô bé, cậu bé như các con tôi!

Thương Học Phương Châm
Ngày nay nghe nói đến Đông-Kinh Nghĩa - Thục, người Việt nào cũng ngưỡng mộ, kính phục những nhà cựu học đã gây nên phong trào duy tân đầu tiên ở nước nhà. Bị un đúc trong cái lò thi phú mà các cụ có đầu óc mới mẻ như vậy quả thực là siêu quần.
Công của các cụ rất lớn.
Nhờ Nghĩa Thục mà sau những vụ thất bại ở cuối thế kỷ trước, chúng ta lấy lại được lòng tự tín: không tự ti đối với Trung Hoa và Âu Tây mà cũng không tự cao đến mù quáng. Chúng ta vẫn tôn trọng những giá trị tinh thần - hi sinh và bất khuất - của cựu học mà đồng thời cũng biết nhận giá trị thực tế của tân học:
Học Tây học Hán có rành mới hay.
Cởi bỏ được những quan niệm lạc hậu rồi - nhất là quan niệm trung quân quá cố chấp - tinh thần dân tộc của ta vững thêm. Các cụ một mặt khai thác cái vốn cũ của dân tộc mà vốn quí nhất là ngôn ngữ, một mặt tiếp thu văn hóa Âu Tây bằng công việc dịch thuật. Các cụ là người đầu tiên bỏ khoa cử và hô hào mọi người học tiếng Việt, viết lách bằng tiếng Việt, do đó mở đường cho các nhóm Đông Dương tạp chí và Nam Phong sau này.
Nghĩa Thục chỉ thọ khoảng một năm mà tên Nghĩa Thục được ghi trên sử...“Mệnh ấy yểu mà danh ấy thọ”. Mà danh ấy thọ là nhờ đám “nho lưu” ấy, gồm hầu hết những bực tuấn-tú, nhiệt-tâm, chí-khí nhất trong nước, tức cái tinh-hoa của non sông đã tụ họp nhau ở nhà số 4 phố hàng Đào của cụ Lương-văn-Can để nắm tay nhau mà cải-tạo non sông."
Nguyễn Hiến Lê – Đông Kinh nghĩa thục

Dì Ghẻ, Con Chồng
Được đông đảo độc giả, giới nghiên cứu khoa học xã hội biết đến là nhà nghiên cứu lịch sử, địa chí, nhưng xuất phát điểm của nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Tư, lại là những truyện dài dành cho thiếu nhi. Khởi sự cho nghiệp viết lách ấy, phải quay về hơn 80 năm trước khi năm 1943, tác phẩm đầu tiên truyện dài mang tên “Nguyễn Xí” đăng trên báo Truyền bá số 85, ra ngày 10/6/1943 tại Hà Nội, viết về cụ tổ dòng họ. Lúc đó, chàng trai Nguyễn Đình Tư ở tuổi 23.
Báo Truyền bá khi ấy, có những cây bút đã thành danh, tên tuổi như Nguyễn Công Hoan, Lê Văn Trương, Thâm Tâm… Đây cũng là những tên tuổi bảo chứng cho Nhà xuất bản Tân Dân, đơn vị in ấn, phát hành loại báo in dạng sách nhỏ. Thế mà, chàng trai Nguyễn Đình Tư từ tỉnh lẻ Trung Kỳ đã "chen chân" được lên báo Truyền bá, và không chỉ có tác phẩm Nguyễn Xí.
Sẵn đà cảm hứng sáng tác, Nguyễn Đình Tư còn có những tác phẩm Dì ghẻ, con chồng trên Truyền bá số 103, ra ngày 14/10/1943, Thù chồng nợ nước tập II trên Truyền bá số 113, ra ngày 3/2/1944, Nguồn sống trên Truyền bá số 150, ra ngày 19/10/1944.
Những tưởng các tác phẩm của thuở ban đầu nghiệp viết ấy chỉ còn là kỷ niệm với nhà nghiên cứu bách niên khi những đầu báo in hơn 80 năm trước bởi những chảy trôi của thời gian không còn giữ lại được. May thay, Thư viện quốc gia Pháp vẫn còn lưu gần đầy đủ những số báo Truyền bá có bài viết của tác giả Nguyễn Đình Tư (thiếu Thù chồng nợ nước tập I).
Sách kỹ năng sống, Sách nuôi dạy con, Sách tiểu sử hồi ký, Sách nữ công gia chánh, Sách học tiếng hàn, Sách thiếu nhi