
Phương Pháp Nghiên Cứu Luật Học
Trong bối cảnh pháp luật ngày càng phức tạp và gắn chặt với mọi mặt của đời sống, “Phương pháp nghiên cứu luật học” của PGS. TS. Phạm Duy Nghĩa ra đời như một cuốn sách nền tảng, giúp người học và người hành nghề không chỉ biết luật mà còn tư duy và làm việc như một luật sư thực thụ.
Cuốn sách dẫn dắt người đọc từ những học thuyết pháp lý cơ bản đến cách đọc – giải mã văn bản pháp luật, phân tích bản án, nhận diện vấn đề pháp lý và lựa chọn phương án giải quyết phù hợp trong các tình huống thực tế.
Điểm đặc biệt của sách nằm ở sự kết hợp chặt chẽ giữa nền tảng học thuật và kỹ năng thực hành, giúp người học hình thành tư duy “thinking like a lawyer” – một năng lực còn thiếu hụt trong nhiều giáo trình luật hiện nay vốn thiên về truyền đạt quy định pháp luật hơn là phương pháp tư duy.
Không dừng lại ở việc trang bị kiến thức, “Phương pháp nghiên cứu luật học” còn là cuốn sách công cụ hướng dẫn người đọc cách đặt câu hỏi nghiên cứu đúng, tự tổ chức và tiến hành nghiên cứu, viết tiểu luận, bình luận án, khóa luận hay luận văn với lập luận rõ ràng và mạch lạc. Đặc biệt, sách nhấn mạnh một yêu cầu cốt lõi của nghề luật: nghiên cứu tốt là chưa đủ, còn phải viết để thuyết phục và viết để thành công.
Tiệm cận các chuẩn mực quốc tế trong nghiên cứu luật học nhưng được đặt trong bối cảnh Việt Nam, cuốn sách vừa mang tính hàn lâm, vừa có giá trị ứng dụng cao. Đây cũng là cuốn nền tảng trong bộ sách chuyên khảo 5 tập của PGS. TS. Phạm Duy Nghĩa, cùng với:
- Đại cương pháp luật & Quản trị rủi ro pháp lý
- Luật kinh tế: Luật của người kinh doanh
- Trọng tài & Giải quyết tranh chấp trong dự án đầu tư hạ tầng
- Gập ghềnh công lý: Những tâm sự về đạo nghề
Bố cục cuốn sách gồm 11 chương:
Chương I: Nghiên cứu pháp luật: Khái niệm và ý nghĩa
Chương II: Nghiên cứu học thuyết: Một phương pháp nghiên cứu luật học truyền thống
Chương III: Khung lý thuyết trong nghiên cứu pháp luật
Chương IV: Các phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội trong nghiên cứu pháp luật
Chương V: Lựa chọn và diễn đạt câu hỏi nghiên cứu
Chương VI: Đánh giá tài liệu và xây dựng đề cương nghiên cứu
Chương VII: Kỹ năng viết bài nghiên cứu pháp luật
Chương VIII: Thuyết trình bài nghiên cứu pháp luật
Chương IX: Đạo đức của người nghiên cứu pháp luật
Thiết kế bìa sách theo phong cách trừu tượng – hình học, thống nhất trong toàn bộ series, gợi mở pháp luật như một hệ thống tư duy có cấu trúc, đồng thời khẳng định đây là bộ sách dành cho nghiên cứu và hành nghề chuyên sâu, không phải dòng sách nhập môn hay phổ thông.
Với nền tảng học thuật vững chắc và kinh nghiệm thực tiễn phong phú của tác giả – một học giả luật học, giảng viên cao cấp và trọng tài viên quốc tế – “Phương pháp nghiên cứu luật học” là lựa chọn không thể thiếu cho sinh viên luật giai đoạn nâng cao, học viên sau đại học, luật sư, thẩm phán, trọng tài viên, cũng như những ai quan tâm đến tư duy pháp lý và quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh.
Đây là cuốn sách để bắt đầu nghiên cứu luật học một cách nghiêm túc – và để đi xa hơn trên con đường hành nghề pháp lý.
THÔNG TIN TÁC GIẢ
Phạm Duy Nghĩa
Ông Phạm Duy Nghĩa có bằng Cử nhân và Tiến sĩ Luật, Đại học Tổng hợp Leipzig (1991) chuyên về pháp luật kinh doanh.
Là trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam VIAC, ông đảm nhận vai trò chủ tịch, trọng tài viên của nhiều Hội đồng trọng tài giải quyết các tranh chấp quốc tế về kinh doanh, thương mại, xây dựng, đầu tư, mua bán và sáp nhập.
Ngoài là học giả Fulbright tại Harvard Law School (2002-2003), ông còn là giảng viên cao cấp, từng giảng dạy tại Khoa Luật (nay là Trường Đại học Luật) – Đại học Quốc Gia Hà Nội (1996-2009), Khoa Luật – Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh (2010-2017), Trường Chính sách công & Quản lý Fulbright (2018-2025), và hiện đang công tác tại Khoa Luật Trường Đại học Tôn Đức Thắng.
TRÍCH ĐOẠN/ CÂU QUOTE HAY
“Luật học là một ngành học truyền thống, tuy vậy việc dạy, học và hành nghề luật đang thay đổi nhanh. Trên thế giới, khái quát có hai mô hình đào tạo luật. Theo định hướng hành nghề ở Mỹ, người đã tốt nghiệp đại học (một ngành bất kỳ) sẽ được đào tạo 3-4 năm (toàn thời gian) trong một trường luật (có tên trong danh sách các trường được Hiệp hội luật sư Hoa Kỳ công nhận) để được cấp bằng juris doctor (JD), một điều kiện dự thi chuẩn mực để lấy thẻ hành nghề luật sư. Ở nhiều nước khác, học vị ngành luật gồm cử nhân luật (LLB), thạc sĩ luật (LLM), tiến sĩ luật (PhD); (tùy quốc gia, khái niệm thạc sĩ luật (LLM) rất khác nhau, đôi khi dành cho người chưa có bằng LLB hoặc người học từ hệ thống pháp luật nước ngoài). Mô hình JD kiểu Hoa Kỳ đã được du nhập vào một số nước, với mức độ thành công khác nhau. Hàn Quốc, Nhật Bản, Australia, từ đào tạo kiểu hàn lâm để cấp bằng cử nhân luật (LLB) truyền thống, đã có thời gian chuyển một phần sang đào tạo JD, với quy mô và tốc độ chuyển đổi hạn chế. (Lưu ý: học vị thường chưa đủ là điều kiện để hành nghề luật sư ở các nước này, người học còn phải học thêm những chương trình hành nghề). Người hành nghề trợ lý luật (nhân viên văn phòng luật, thi hành án, người giúp việc trong dịch vụ pháp lý - paralegal) thường được đào tạo nghề ở bậc trung cấp, cao đẳng là đủ.”
“Học để lấy học vị cử nhân, thạc sĩ hoặc tiến sĩ là đào tạo hàn lâm, khác với học để hành nghề luật. Để luật sư, thẩm phán và công tố viên có cùng một nền tảng kiến thức, người ta thường dạy nghề chung cho ba nhóm hành nghề này. Triết lý này (Einheitsjurist) bắt nguồn từ Đức, được du nhập sang Nhật, Hàn Quốc, một thời cũng đã được Việt Nam tham khảo, ít nhất trong chủ trương, khi Học viện Tư pháp (thuộc Bộ Tư pháp) được thành lập vào năm 1998. Tuy nhiên, triết lý này không được triển khai triệt để và có vẻ đã không còn thuyết phục ở Việt Nam. Hiện nay, Học viện Tư pháp (thuộc Bộ tư pháp) chỉ còn đảm trách những chương trình dạy hành nghề cho luật sư, công chứng, giám định viên tư pháp, thừa phát lại. Trường ĐH Kiểm sát (thuộc Viện KSNDTC) đào tạo kiểm sát viên. Học viện Tòa án (thuộc TANDTC) đào tạo thẩm phán, thư ký tòa án. Liên đoàn Luật sư Việt Nam có chức năng bồi dưỡng nghề cho luật sư. Việc bồi dưỡng với số giờ quy định hằng năm được thực hiện bởi Liên đoàn luật sư, Hiệp hội công tố hay Hiệp hội thẩm phán theo truyền thống riêng của từng nghề.”
“Mỗi ngày trôi qua người ta có thể tiến hành vô số hành vi tìm hiểu, tra cứu, nghiên cứu mà không hề ý thức về nó. Để thống kê có bao nhiêu ứng dụng trí tuệ nhân tạo (những con AI) được dùng phổ biến trong nghề luật, những ứng dụng nào là chuyên dụng cho nghề luật sư, việc ấy cần tìm hiểu, thống kê, phân tích. Nghiên cứu thị trường, tìm kiếm, giữ chân khách hàng, tập huấn nhân viên, trong công việc thường ngày của người hành nghề luật, mỗi quyết định thường được đưa ra dựa trên kết quả của vô số nghiên cứu, tra cứu được tiến hành như một thói quen nghề nghiệp mà ít khi người ta ý thức về nó.”
“Khác với tìm kiếm, tra cứu thường ngày, nghiên cứu khoa học được hiểu trong sách này hẹp hơn, chỉ bao gồm các hành vi được tiến hành một cách có hệ thống, dựa trên một phương pháp, dựa trên một hoặc nhiều khung lý thuyết chắc chắn, nhằm góp phần nhận biết, giải thích một sự vật, sự việc, từ đó đóng góp thêm, đóng góp điểm mới vào khối tri thức sẵn có của con người. Nghiên cứu khoa học là hành vi được tiến hành có chủ đích tìm hiểu tri thức mới, được thực hiện với phương pháp và quy trình khoa học. Nghiên cứu khoa học có thể được phân thành 4 loại như sau: (i) nghiên cứu cơ bản thuần túy (pure basic research), (ii) nghiên cứu cơ bản chiến lược (strategic basic research), (iii) nghiên cứu ứng dụng (applied research) và (iv) phát triển thử nghiệm (experimental development).”
“Ngoài hoạt động nghiên cứu ứng dụng thường ngày mà người hành nghề luật thường tiến hành, với tính chất của hoạt động nghiên cứu khoa học, có thể phân chia nghiên cứu luật học thành 04 loại: (i) nghiên cứu học thuyết pháp lý, (ii) nghiên cứu xây dựng pháp luật, (iii) nghiên cứu lý thuyết để hiểu các nguyên tắc pháp luật, gồm pháp luật nội dung cũng như tố tụng và quá trình thực thi chúng trong một lĩnh vực cụ thể, và (iv) nghiên cứu nền tảng nhằm giải thích pháp luật như một hiện tượng xã hội trong liên ngành với khoa học lịch sử, ngôn ngữ, kinh tế, chính trị, xã hội hay nhân chủng học.”
“Nghiên cứu luật học ngày càng liên ngành, tương tác với kinh tế học, xã hội học, chính trị học, nhân chủng học, lịch sử, văn hóa. Để hiểu các thể chế và quy trình luật pháp vận hành, cần tới góc nhìn phức hợp, liên thuộc giữa nhiều bên liên quan (complexity theory). Những nghiên cứu như vậy có thể được xem là nghiên cứu nền tảng (fundamental research) để giải thích pháp luật như một hiện tượng xã hội. Ví dụ: nhằm thúc đẩy công nghiệp công nghệ số, các sản phẩm và dịch vụ liên quan đến tài sản mã hóa (crypto) và chuỗi khối (blockchain), vừa giải thích vì sao Việt Nam là một thị trường tài sản mã hóa năng động, vừa bảo vệ nhà đầu tư, chống rửa tiền, chống lừa đảo, vừa tạo kênh thu hút vốn quốc tế trong thời đại số. Những nghiên cứu như vậy có tính nền tảng, chuẩn bị cho các chính sách pháp luật linh hoạt về tài sản mã hóa, thúc đẩy quá trình chuyển sang nền kinh tế số ở nước ta.”

Đại Cương Pháp Luật Và Quản Trị Rủi Ro Pháp Lý
Tiếp nối mạch tư duy học thuật – thực hành của “Phương pháp nghiên cứu luật học”, cuốn “Đại cương pháp luật & Quản trị rủi ro pháp lý” của PGS. TS. Phạm Duy Nghĩa mở rộng điểm nhìn từ cách nghiên cứu luật sang cách pháp luật vận hành và chi phối đời sống kinh tế – xã hội.
Cuốn sách bắt đầu từ những câu hỏi rất gần gũi: vì sao pháp luật len vào hầu hết các quyết định của cá nhân và doanh nghiệp, và vì sao sự thịnh vượng của một quốc gia nhiều khi được quyết định bởi cách luật được ban hành và được thực thi. Từ đó, tác giả giúp người đọc nhận ra rằng pháp luật không phải một hệ thống xa vời; mỗi cá nhân, mỗi tổ chức đều có vị trí và khả năng góp tiếng nói vào việc hình thành những quy tắc chi phối chính mình.
Trên nền tảng các kiến thức pháp lý cơ bản và quy trình lập pháp từ địa phương đến Trung ương, sách dẫn dắt người đọc đi vào những va chạm pháp lý quen thuộc: đất đai, tài sản, hợp đồng, tranh chấp – những lĩnh vực ai cũng gặp nhưng không phải ai cũng biết cách “đọc hiểu” và quản trị.
Điểm nổi bật của cuốn sách là việc vận dụng khung lý thuyết pháp luật vào bối cảnh Việt Nam, đồng thời mở rộng sang những vấn đề mới của thời đại như blockchain, tài sản mã hóa, hợp đồng thông minh, tòa án số, qua đó chỉ ra các rủi ro pháp lý tiềm ẩn và cách tiếp cận phù hợp để phòng ngừa.
Không chỉ giúp người đọc tránh rủi ro, “Đại cương pháp luật & Quản trị rủi ro pháp lý” còn cho thấy khi có khung tư duy đúng, việc quản trị rủi ro trở thành một quá trình chủ động, hệ thống và hiệu quả, thay vì phản ứng bị động khi tranh chấp đã xảy ra. Đây cũng chính là lý do cuốn sách đáp ứng sát nhu cầu thực tế của nghiên cứu pháp lý và quản trị trong bối cảnh kinh doanh hiện nay – đặc biệt khi “Pháp luật đại cương” là môn học bắt buộc ở nhiều cơ sở đào tạo tại Việt Nam.
Là một phần quan trọng trong bộ sách chuyên khảo 5 cuốn của PGS. TS. Phạm Duy Nghĩa – cùng với:
- Phương pháp nghiên cứu luật học
- Luật kinh tế: Luật của người kinh doanh
- Trọng tài & Giải quyết tranh chấp trong dự án đầu tư hạ tầng
- Gập ghềnh công lý: Những tâm sự về đạo nghề
Bố cục cuốn sách gồm 9 chương:
Chương I: Đại cương: Vốn liếng cần có trước khi tìm hiểu pháp luật
Chương II: Luật pháp thời trí tuệ nhân tạo và kinh tế dữ liệu: Thảo luận về vai trò của pháp luật đối với phát triển
Chương III: Chính trị – Kinh tế – Pháp luật: Những nhân tố thúc đẩy cải cách pháp luật ở Việt Nam
Chương IV: Làm luật thời chuyển đổi số: Quy trình lập pháp
Chương V: Luật Đất đai: Làm thế nào để tự tìm hiểu một đạo luật đang thay đổi nhanh chóng?
Chương VI: Tài sản mã hóa: Khung pháp luật cho công nghiệp công nghệ số
Chương VII: Tiếp biến, định vị, bản sắc: Một góc nhìn về pháp luật hợp đồng
Chương VIII: Đoán định tư pháp: Tòa án, trọng tài trước cơ hội số hóa và trí tuệ nhân tạo
Chương IX: Rủi ro pháp lý: Một chiến lược quản trị rủi ro từ góc nhìn doanh nghiệp
Thiết kế bìa theo phong cách trừu tượng – hình học, thống nhất trong toàn bộ series, tiếp tục khẳng định pháp luật như một hệ thống tư duy có cấu trúc, đồng thời giúp nhận diện đây là bộ sách chuyên môn dành cho nghiên cứu và hành nghề nghiêm túc.
Với chiều sâu học thuật, kinh nghiệm giảng dạy và thực tiễn phong phú của tác giả – một học giả luật học, trọng tài viên quốc tế và giảng viên cao cấp – “Đại cương pháp luật & Quản trị rủi ro pháp lý” là cuốn sách phù hợp cho sinh viên luật giai đoạn nâng cao, học viên sau đại học, luật sư, nhà quản lý, chuyên gia tư vấn, cũng như những độc giả quan tâm đến tư duy pháp lý và quản trị rủi ro trong kinh doanh.
Đây là cuốn sách giúp người đọc hiểu vì sao pháp luật quan trọng – và làm thế nào để sử dụng pháp luật một cách thông minh trong thế giới đầy biến động.
THÔNG TIN TÁC GIẢ:
Phạm Duy Nghĩa
Ông Phạm Duy Nghĩa có bằng Cử nhân và Tiến sĩ Luật, Đại học Tổng hợp Leipzig (1991) chuyên về pháp luật kinh doanh.
Là trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam VIAC, ông đảm nhận vai trò chủ tịch, trọng tài viên của nhiều Hội đồng trọng tài giải quyết các tranh chấp quốc tế về kinh doanh, thương mại, xây dựng, đầu tư, mua bán và sáp nhập.
Ngoài là học giả Fulbright tại Harvard Law School (2002-2003), ông còn là giảng viên cao cấp, từng giảng dạy tại Khoa Luật (nay là Trường Đại học Luật) – Đại học Quốc Gia Hà Nội (1996-2009), Khoa Luật – Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh (2010-2017), Trường Chính sách công & Quản lý Fulbright (2018-2025), và hiện đang công tác tại Khoa Luật Trường Đại học Tôn Đức Thắng.
TRÍCH ĐOẠN/ CÂU QUOTE HAY
“Tùy góc nhìn, người ta có thể quan niệm khác nhau về pháp luật. Người Việt Nam thường hiểu rằng pháp luật là tập hợp của những quy phạm, quy tắc ứng xử được Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực thi, khi cần có thể cưỡng chế thi hành. Định nghĩa này có ba ý: (i) pháp luật là những quy tắc ứng xử, (ii) do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, (iii) được Nhà nước đảm bảo thực thi khi cần. Pháp luật nước ta trước hết là những quy định do Nhà nước ban hành, thông qua những thủ tục chặt chẽ, hiệu lực áp dụng chung, phổ quát, gọi là văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL). Câu hỏi sẽ là: Định nghĩa về pháp luật như vậy đã đúng, trúng, và đầy đủ hay chưa?”
“Pháp luật là chuẩn mực duy trì cuộc sống của con người một cách có trật tự. Nếu tin vào đấng tối cao, trời đất, tạo hóa mà cho rằng ở đời có những đạo lý bất biến, gọi đó là luật, thì luật ấy mang màu sắc thần quyền (Thomas Aquinas). Nếu tin rằng ở đời có nhiều lực lượng và sức mạnh kiềm chế lẫn nhau, luật pháp giúp họ thỏa thuận cùng chung sống hòa bình, luật đó được hiểu như khế ước xã hội (Thomas Hobbes). Nếu tin rằng giai cấp sở hữu tư liệu sản xuất, thống trị nhà nước, pháp luật sẽ là ý chí của giai cấp thống trị được đề lên thành luật (Karl Marx). Để được chấp nhận rộng rãi và tự nguyện thi hành, luật pháp thường là những thỏa thuận về lợi ích giữa những thế lực có năng lực thương lượng trong quá trình làm luật. Tùy theo từng góc nhìn mà người ta có thể nhận định khác nhau về bản chất pháp luật.”
“Luật học, tức khoa học khám phá sự thật của pháp luật (hai chữ juris và prudentia kết thành chữ luật học jurisprudence). Từ cổ đại, các triết gia Phương Đông (đại diện tiêu biểu bởi Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử, Hàn Phi, Thương Ưởng, Lý Tư, Lão Tử, Trang Tử) cũng như Phương Tây (Socrates, Plato, Aristotle) không ngừng tranh luận về thế giới quan của mình đối với luật. Từ thế kỷ XVII cho đến nay, cuộc tranh luận về triết học pháp quyền diễn ra sôi nổi và không ngừng ở Phương Tây, từ Kant, Hegel, Hans Kelsen (Reine Rechtslehre) trong không gian nói tiếng Đức, tới Thomas Hobbes, John Locke, Herbert Lionel Adolphus Hart, John Bordley Rawls trong khu vực nói tiếng Anh.”
“Pháp luật là chuẩn mực duy trì cuộc sống của con người một cách có trật tự. Nếu tin vào đấng tối cao, trời đất, tạo hóa mà cho rằng ở đời có những đạo lý bất biến, gọi đó là luật, thì luật ấy mang màu sắc thần quyền (Thomas Aquinas). Nếu tin rằng ở đời có nhiều lực lượng và sức mạnh kiềm chế lẫn nhau, luật pháp giúp họ thỏa thuận cùng chung sống hòa bình, luật đó được hiểu như khế ước xã hội (Thomas Hobbes). Nếu tin rằng giai cấp sở hữu tư liệu sản xuất, thống trị nhà nước, pháp luật sẽ là ý chí của giai cấp thống trị được đề lên thành luật (Karl Marx). Để được chấp nhận rộng rãi và tự nguyện thi hành, luật pháp thường là những thỏa thuận về lợi ích giữa những thế lực có năng lực thương lượng trong quá trình làm luật. Tùy theo từng góc nhìn mà người ta có thể nhận định khác nhau về bản chất pháp luật.”
“Có nhiều cách giải thích sự hình thành của pháp luật. Một mặt, hành vi ứng xử có sẵn trong xã hội, khi được Nhà nước thừa nhận và bảo đảm thi hành, chúng trở thành luật. Mặt khác, Nhà nước làm chính sách, lựa chọn, ban hành chuẩn mực văn minh, luật được áp đặt, từ đó dần thay đổi hành vi con người, tuân thủ miết thành thói quen, thói quen lâu dần sẽ trở thành tục lệ, văn hóa ứng xử, thành tiềm thức hiển nhiên ở đời. Vài ví dụ, cổ và kim, dưới đây minh họa cho nhận định trên. Cổ luật nước ta, Quốc Triều Hình Luật đời Lê Thánh Tôn, Hoàng Việt Luật Lệ đời Gia Long, Dân Luật Bắc Kỳ năm 1931 thời thuộc Pháp, tỷ mỷ ghi nhận các tục lệ của người VN, từ ma chay, hương hỏa, vợ chính, vợ thứ, đích tử, đích tôn, đoạn mãi, điển mãi, kỵ điền, hậu điền, quan hệ lối xóm hay hay làm công gá nợ. Những chuẩn mực ứng xử trong lối sống của mỗi dân tộc, khi Nhà nước thừa nhận và tổ chức thi hành những tục lệ ấy chúng trở thành luật. Thường thì tư tưởng triết lý, văn hóa, niềm tin hay tôn giáo tạo đà cho sự ra đời của pháp luật ổn định. (Thiên chúa giáo đã là một nền móng vững chắc góp phần cho sự hình thành pháp luật Châu Âu). Mặt khác, luật thể hiện chính sách của Nhà nước, Nhà nước chọn chính sách, ban hành luật, tổ chức thi hành, tuân thủ nghiêm minh dần thì trở thành ý thức, thói quen, luật tốt thực thi tốt lâu dần thì thành nề nếp văn hóa một cách tự nhiên. Luật tốt lâu ngày trở thành lệ, lệ tốt lâu ngày trở thành tiềm thức, thói quen. Các quy định cấm đốt pháo, buộc phải đội mũ bảo hiểm khi lưu thông xe máy, cấm xe xăng khuyến dụng xe điện, là vài ví dụ theo cách giải thích này.”
“Nếu xem pháp luật là hiện thân của công lý, của “lưới trời lồng lộng”, có những nguồn luật khác, bổ khuyết cho VBQPPL, ví dụ: (i) án lệ do các tòa án tuyên trong quá trình diễn giải luật, (ii) tập quán, thông lệ, (iii) học thuyết pháp lý và (iv) lẽ công bằng. Đây là một điều không mới. § 4 Dân luật Bắc kỳ 1931 (Dân luật thi hành tại các tòa Nam án Bắc kỳ) quy định: “Khi nào không có điều luật thi hành được, thì quan Thẩm phán xử theo tập quán phong tục, và nếu không có phong tục, thì xử theo lẽ phải và sự công bằng, cùng là châm chước tục riêng, thói quen và tình ý của đương sự. Quan Thẩm phán sẽ giải quyết theo luật học và án lệ”. Các bản án của tòa án nước ta đã được tập hợp và công bố từ vài chục năm nay, án lệ mới đang phổ biến dần. Mặt khác, các nghị quyết của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng pháp là tập hợp kinh nghiệm, nhận định của TANDTC trong quá trình xử án, được tập hợp thành một VBPL với lập luận của tòa án. Tập quán và thông lệ có thể là nguồn pháp luật, tuy nhiên tòa cấp dưới thường chỉ an tâm vận dụng chúng khi đã được tòa cấp trên cho ý kiến cụ thể. Học lý, lẽ công bằng, qua hướng dẫn của TANDTC có thể trở thành nguồn luật trong thực tiễn xét xử của các tòa án nước ta.”
“Pháp luật là một hệ thống, bao gồm nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau, mỗi lĩnh vực lại là tập hợp của nhiều quy định, cho tới phần tử nhỏ nhất của pháp luật được gọi (trừu tượng) là các quy phạm pháp luật. Tùy mục đích nghiên cứu, có thể phân chia pháp luật thành những tiểu cấu phần khác. Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Luật Hiến pháp được cho là luật gốc. Từ đó sinh ra các nhánh như luật hành chính, hình sự, dân sự và các lĩnh vực ngày càng chuyên sâu hơn, hẹp hơn.”
Sách kỹ năng sống, Sách nuôi dạy con, Sách tiểu sử hồi ký, Sách nữ công gia chánh, Sách học tiếng hàn, Sách thiếu nhi