
Lão Bộc - Hania - Selim Mirza
GIỚI THIỆU TÁC PHẨM
Từ những hồi ức sâu đậm, ngọt ngào về thời thơ ấu và tuổi trẻ của chính ông, Bộ ba nhỏ đã vẽ nên bức tranh của tổ ấm quý tộc Ba Lan xưa, với những chi tiết sinh động, nguyên mẫu và những thực tế của cuộc sống truyền thống gia đình, những nét quyến rũ của đời sống nông thôn và vẻ đẹp như tranh của phong cách quý tộc cổ, gắn với quá khứ huy hoàng và đau khổ của đất nước, với những con người tính khí sôi nổi, có những nguyên tắc đạo lý rõ ràng và hệ thống giá trị truyền thống mà ông yêu quý tận đáy lòng.
Phần đầu tiên của Bộ ba nhỏ – Lão bộc – là câu chuyện về ông lão Mikołaj Suchowolski, “người hầu già của ba thế hệ trong một gia đình, kẻ nói khoác đầy quyến rũ và hay càu nhàu”. Hình tượng Mikołaj được tác giả mô tả với tình cảm ấm áp nhất, một con người đức hạnh, đẫm màu sắc xưa cũ, như một di sản đáng trân trọng của quá khứ, sống mãi trong ước vọng được kéo dài dư vị ngọt ngào và ấm áp của những năm thơ ấu trong tổ ấm gia đình tác giả.
Phần thứ hai – Hania – là chuyện tình tay ba giữa chàng trai Henryk bồng bột, cô thiếu nữ Hania cháu ngoại cụ Mikołaj, và anh bạn người Tatar Selim Mirza. Chủ đề lãng mạn này có thể sẽ khiến Hania là một chuyện tình thuần túy, nếu nó không phản ảnh vô cùng sinh động bối cảnh xã hội và đạo đức nơi các sự kiện diễn ra. Tác giả mô tả rất sắc nét buổi hậu kỳ của một gia đình quý tộc Ba Lan cuối thế kỷ XIX, diễn tả những tình cảm, những rung động đầu đời, đề cao sức mạnh nội tâm cho phép con người chiến thắng bản thân mình, vượt qua các bi kịch của cuộc đời. Nhân vật nữ chính, Hania chinh phục trái tim người đọc bằng chính phẩm hạnh và sự chân thành, theo tiếng gọi của trái tim ngược với dự định của gia đình đang cưu mang nàng, và kiêu hãnh tự lui mình vào bóng tối.
Cuộc phiêu lưu chiến tranh lãng mạn của Selim Mirza được nhà văn dự định là liên quan đến cuộc Khởi nghĩa Tháng Giêng (1863-1864), là mắt xích cuối cùng trong Bộ ba nhỏ. Chế độ kiểm duyệt hồi ấy đã khiến ý tưởng này không được thực hiện. Bối cảnh hành động được chuyển sang cuộc chiến Pháp – Phổ. Chủ đề của câu chuyện về giới quý tộc là cuộc phiêu lưu chiến tranh đặt trên trục lãng mạn đã kết lại thiên truyện bộ ba.
Tác phẩm được dịch giả Nguyễn Hữu Dũng chuyển ngữ từ nguyên bản tiếng Ba Lan. Ông cũng là người chuyển ngữ các tác phẩm khác của Sienkiewicz là Quo Vadis, Hiệp sĩ Thánh Chiến, Trên sa mạc và trong rừng thẳm. Bộ ba nhỏ do họa sĩ Triệu Yến Vy minh họa, hi vọng mang lại cho bạn đọc Việt Nam một ấn bản trang nhã, giàu giá trị thưởng lãm, đồng thời lưu giữ trọn vẹn vẻ đẹp cổ điển, tinh tế của tác phẩm.
GIỚI THIỆU TÁC GIẢ
Henryk Sienkiewicz (1846-1916) là nhà văn Ba Lan kiệt xuất, tác giả của những tuyệt phẩm văn học được yêu thích ở Việt Nam và trên thế giới. Ông đạt tới vinh quang chủ yếu với tư cách tác giả của các tiểu thuyết lịch sử hoành tráng, đầy cuốn hút và sức cổ vũ lòng người như bộ sách Tiểu thuyết lịch sử bộ ba (Trylogia) gồm Bằng lửa và gươm, Trận hồng thủy, Ngài Wolodyjowski (1881-1887) hay Hiệp sĩ Thánh chiến (1897- 1900). Ông được tặng giải Nobel văn học năm 1905 với Quo vadis (1895-1896), tiểu thuyết mô tả sự chiến thắng của sức mạnh nhân văn đối với bạo lực của bạo chúa Nero thời đầu công nguyên.
Nhưng trước khi sáng tác tiểu thuyết, Sienkiewicz đã là một trong những tác giả tiên phong xuất sắc của truyện ngắn Ba Lan hiện đại. Những thiên truyện ngắn và truyện vừa xuất sắc với nhiều biến thể khác nhau của ông đã đạt đến nghệ thuật bậc thầy. Vào tháng 11 năm 1875, truyện ngắn Lão bộc (Stary sługa) xuất hiện trên báo Gazeta Polska, một năm sau truyện vừa Hania ra đời. Rồi sáu tháng sau đó, nhà văn đã xuất bản Selim Mirza. Ba truyện này, ký bút danh Litwos, được Sienkiewicz gọi chung là Phác thảo từ thiên nhiên và cuộc đời, thường được gọi là Bộ ba nhỏ.

Trên Sa Mạc Và Trong Rừng Thẳm
Câu chuyện kể về cuộc phiêu lưu trên vùng đất Đông Phi của cậu bé Stas mười bốn tuổi và cô bé Nell tám tuổi khi bị bắt cóc và đem từ kênh đào Suez qua sa mạc Sahara tới Sudan. Trải qua không biết bao nhiêu hiểm nguy, đối mặt với nhiều gian nan thử thách, khi thì trên sa mạc nắng cháy, lúc giữa rừng già thẳm sâu, cuối cùng, Stas và Nell cũng đoàn tụ được với gia đình.
Là tác phẩm duy nhất viết cho thiếu nhi của nhà văn Ba Lan nổi tiếng Henryk Sienkiewicz, ngay từ khi xuất bản lần đầu năm 1912, Trên sa mạc và trong rừng thẳm đã được hoan nghênh nhiệt liệt, được tái bản ngay và được dịch ra nhiều thứ tiếng, sau đó được dựng thành phim năm 1973 và 2001. Trong suốt một thế kỷ qua, tác phẩm đề cao lòng quả cảm, khát vọng đi tới những chân trời xa, thực hiện những kì tích phi thường này luôn được coi là một trong những cuốn truyện hay nhất dành cho thiếu nhi.
Cuốn sách Trên sa mạc và trong rừng thẳm được dịch giả Nguyễn Hữu Dũng dịch từ nguyên tác tiếng Ba Lan ""W pustyni i w puszczy"" - NXB Pans twowi institut widawniczi.
Sách bìa cứng, bìa bọc bằng vải. Bụng sách được nhũ vàng.
GIỚI THIỆU TÁC GIẢ:
Henryk Sienkiewicz sinh năm 1846 trong một gia đình quý tộc Ba Lan nghèo. Ban đầu ông theo học ngành luật và y khoa, nhưng cuối cùng lại chuyển sang văn và sử. Về sau, ông không chỉ là một văn hào mà còn là một nhà báo tài năng.
Sự nghiệp sáng tác của Sienkiewicz rất đồ sộ, với các tác phẩm đã trở thành sách gối đầu giường của nhiều thế hệ: Người gác đèn biển (truyện ngắn, 1882); Bằng lửa và gươm (tiểu thuyết, 1884); Ngài Wolodyjowski (tiểu thuyết, 1888); Quo Vadis (tiểu thuyết, 1894 - 1896); Hiệp sĩ Thánh Chiến (tiểu thuyết, 1900); Trên sa mạc và trong rừng thẳm (tiểu thuyết, 1912)...
Henryk Sienkiewicz được trao giải Nobel Văn học năm 1905. Sách của ông được dịch ra rất nhiều thứ tiếng, nhiều lần được dựng thành kịch, quay thành phim. Ông mất năm 1916 tại Vevey, Thụy Sĩ.

Hiệp Sĩ Thánh Chiến
Vào đầu thế kỷ XV, liên minh Ba Lan - Litva hùng mạnh đã trở thành chướng ngại vật chính ngăn cản sự bành trướng của dòng tu Ki-tô giáo mang tên Giáo đoàn Thánh chiến. Việc hiệp sĩ trẻ Zbyszko tấn công sứ giả của Giáo đoàn và phải lên đoạn đầu đài lại càng làm mâu thuẫn này thêm trầm trọng, kéo theo màn “mỹ nhân cứu anh hùng” cùng những cuộc trả đũa về sau - tất cả góp phần thổi bùng ngòi lửa chiến tranh đã âm ỉ từ lâu.
Dõi theo quá trình trưởng thành của chàng Zbyszko về cả phương diện tình cảm lẫn sự trải đời, câu chuyện là khúc trường thiên ca tụng sức mạnh quả cảm của những con người đầy nghĩa hiệp mà rất đỗi thủy chung. Cuộc đụng đầu lịch sử giữa các dân tộc Slav với thế lực xâm lược của Giáo đoàn Thánh chiến mang ý nghĩa của cuộc đối kháng chính - tà, khiến tác phẩm trở thành một lời cổ vũ hào hùng cho các dân tộc đang chiến đấu không tiếc xương máu để giành độc lập, tự do. Tính chặt chẽ của cấu trúc, nghệ thuật đan xen mật thiết của các tuyến tình tiết, sự hài hòa giữa hai mặt mô tả số phận chung của toàn dân tộc và số phận riêng tư của các nhân vật chính đã khiến các nhà phê bình văn học đánh giá Hiệp sĩ Thánh chiến là tác phẩm hoàn thiện nhất trong những tiểu thuyết lớn của Henryk Sienkiewicz.
GIỚI THIỆU TÁC GIẢ:
Henryk Sienkiewicz (1846 - 1916) là văn hào Ba Lan sinh ra tại Wola Okrzejska trong một gia đình gốc gác quý tộc. Ông từng theo học luật học, y học trước khi chuyên tâm vào sự nghiệp viết lách. Khởi đầu bằng những tiểu luận phê bình đăng báo, ông dần sáng tác hàng loạt truyện ngắn và vừa, rồi tập trung vào thể loại tiểu thuyết lịch sử vào năm 1892. Sau Quo vadis,ông dành thời gian vào việc viết cuốn tiểu thuyết lịch sử Hiệp sĩ Thánh chiến mà mình thai nghén từ lâu. Công việc sáng tác kéo dài ròng rã bốn năm trời, và nhà văn đã cho đăng dần tác phẩm trên các tờ báo Ba Lan, mãi đến năm 1900mới in thành sách. Những giá trị về nội dung và nghệ thuật lớn lao đã khiến cho Hiệp sĩ Thánh chiến trở thành tài sản văn hóa tinh thần quý giá của dân tộc Ba Lan. Ông đạt giải Nobel Văn học năm 1905. Sau thời kỳ bệnh tật kéo dài, Henryk Sienkiewicz chuyển hướng sang viết cho độc giả trẻ tuổi hơn, thành tựu nổi bật có Trên sa mạc và trong rừng thẳm (1910 – 1913). Ông qua đời tại Vevey, Thụy Sĩ.
GIỚI THIỆU DỊCH GIẢ:
Nguyễn Hữu Dũng (02/11/1948) là một người con của quê hương Điện Ngọc, Điện Bàn, Quảng Nam. Ông là phó giáo sư - tiến sĩ về động lực học, chuyên ngành động cơ đốt trong, từng có nhiều năm giảng dạy ở Trường Đại học Thủy sản và công tác tại Vụ Khoa học Công nghệ Bộ Thủy sản. Từ những năm tám mươi của thế kỷ XX, ông đã được bạn đọc biết đến trong vai trò dịch giả - người có công giới thiệu nhiều tác phẩm Ba Lan đến với độc giả Việt Nam, tiêu biểu như Trên sa mạc và trong rừng thẳm, Đường công danh của Nikodem Dyzma, Con hủi…
Henryk Sienkiewicz là tác giả mà ông vô cùng yêu thích, và các tác phẩm của nhà văn này luôn giữ một vị trí đặc biệt trong trái tim ông, như ông đã từng chia sẻ: “Có lẽ văn của Henryk Sienkiewicz cũng có điểm tương đồng với động cơ đốt trong, nó cháy bằng chất gì đó trong tôi và trong những bạn đọc Việt Nam suốt thời gian qua. Đã từng biết đến tài năng của Henryk Sienkiewicz qua các kiệt tác Quo vadis, Hania, Trên bờ biển sáng... độc giả chắc chắn sẽ càng yêu mến ông qua tiểu thuyết Hiệp sĩ Thánh chiến. Tôi đã dành dụm thời gian suốt ba mươi năm qua (1990 - 2020) để dịch tác phẩm kinh điển này, xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!”
1. Hiệp Sĩ Thánh Chiến (Bộ Hộp 2 Tập)
2. Bộ Bo Góc Bảo Quản

Truyện kể về cuộc phiêu lưu trên vùng đất Đông Phi của cậu bé mười bốn tuổi Xtas cùng cô bé Nen tám tuổi trong hành trình trốn chạy khỏi tay bọn bắt cóc. Trải qua không biết bao hiểm nguy, đối mặt với nhiều gian nan thử thách, khi thì trên sa mạc nắng cháy, lúc giữa rừng già thẳm sâu, cuối cùng, Xtas và Nen cũng đoàn tụ được với gia đình.
Là tác phẩm duy nhất viết cho thiếu nhi của nhà văn Ba Lan nổi tiếng Henrich Sienkievich, người đoạt Nobel văn học năm 1905, ngay từ khi ra đời, Trên sa mạc và trong rừng thẳm đã được hoan nghênh nhiệt liệt, được tái bản ngay và được dịch ra nhiều thứ tiếng. Và trong suốt một thế kỷ qua, tác phẩm đề cao khát vọng đi tới những chân trời xa, thực hiện những kì tích phi thường này luôn được coi là một trong những cuốn truyện hay nhất dành cho thiếu nhi.
Sách được tái bản nhiều lần.

Quo Vadis là một tiểu thuyết lịch sử được sáng tác bởi văn hào Henryk Sienkiewicz, người Ba Lan. Quo Vadis trong tiếng Latinh có nghĩa là "Ngài đi đâu?". Câu hỏi này liên hệ quan đến một truyền thuyết Kitô giáo: Đang khi Phêrô chạy trốn để tránh khỏi việc bị kết án đóng đinh ở Rôma, Phêrô đã gặp Chúa Giêsu, ông hỏi Chúa: "Quo vadis, Domine?" ("Lạy Chúa, Ngài đang đi đâu?"), Chúa Giêsu trả lời: "Eo Romam crucifigi iterum" ("Ta vào thành Rôma để chịu đóng đinh một lần nữa") - ngụ ý nhắc nhở Phêrô phải can đảm tiếp tục sứ vụ của mình. Cuối cùng, ông đã quay trở thành Rôma để chịu kết án.
Quo Vadis thuật lại chuyện tình giữa một thiếu nữ Cơ-đốc, tên là Ligia (hoặc Lygia), và Marcus Vinicius, một quý tộc La mã. Chuyện xảy ra tại thành Roma dưới thời hoàng đế Nero.

“Trên Sa Mạc Và Trong Rừng Thẳm” là một trong những sáng tác hay nhất thế giới dành cho thiếu nhi trong suốt hơn một thế kỉ qua.
Truyện kể về cuộc phiêu lưu của cậu bé Stas mười bốn tuổi và cô bé Nell tám tuổi khi bị bắt cóc, bị đưa từ kênh đào Suez, qua sa mạc Sahara tới Sudan. Hai đứa trẻ phải trải qua biết bao hiểm nguy, đối mặt với nhiều khó khăn gian khổ, chiến đấu với những thử thách nghiệt ngã của số phận, vượt sa mạc nắng cháy, băng rừng rậm nhiệt đới trong mùa mưa dầm, trước mối đe dọa đến từ những bộ lạc xa lạ và các loài dã thú.
Câu chuyện về cuộc hành trình vượt qua miền Đông châu Phi của Stas và Nell là khúc tráng ca về vẻ đẹp kì vĩ của thiên nhiên châu Phi, khúc ca ca ngợi lòng quả cảm, khát khao chinh phục chân trời mới, ước vọng thực hiện kì tích phi thường để bảo vệ những điều thân yêu.

Ở Xứ Vàng
Cuốn sách Ở xứ vàng mà bạn đang có trong tay gồm 6 truyện chọn lọc của Henryk Sienkiewicz: Những nhầm lẫn khôi hài, Ở xứ vàng, Người gác đèn biển, Ánh sáng chốn u minh, Nhạc công đại phong cầm làng Ponikla và Nàng thứ Ba.
Viết về những đề tài, bối cảnh và số phận khác nhau, thế nhưng dường như có một sợi dây vô hình gắn kết sáu tác phẩm độc lập mà qua đó hiện lên một bức tranh toàn cảnh về Ba Lan, nơi có tâm hồn con người trú ngụ trên từng tiếng thì thầm dân tộc.
Khi mà, ở một thế giới rộng hơn vượt xa ngoài biên giới Ba Lan, Những nhầm lẫn khôi hài, Ở xứ vàng, Người gác đèn biển như bật lên một tiếng nói đa âm sắc về số phận những kẻ tha hương, bôn ba đến tận biệt xứ tìm kiếm một cơ hội thay đổi cuộc đời. Họ tìm đến Mỹ, vì mỏ dầu (Những nhầm lẫn khôi hài), vì vàng (Ở xứ vàng), vì những xô đẩy của cuộc đời (Người gác đèn biển) hay vì một cuộc trốn chạy khỏi thực tiễn cũ mèm, nhàm chán (Mary - Ở xứ vàng). Nhưng, nói cho tận cùng lý lẽ, dường như tất cả những ai dứt áo ra đi làm sao tránh khỏi một lý do trốn tránh, chẳng phải vì trốn cái nghèo, cái chật vật, cái lẩn quẩn nhàm chán mà người ta lao mình, người ta dấn thân vào những điều run rủi. Mà, như thế có gì là sai quấy. Ở đây, mở ra trong từng trang giấy là những con người vụng về nơi xứ lạ, bằng những cách riêng mình, mỗi người chọn lấy một lối thích nghi. Và, đó cũng là những bình diện khác của cuộc đời xa xứ, khi mà nơi thì yên ả vươn lên như trấn Struck Oil (Những nhầm lẫn khôi hài), nơi lại bão dông khắc nghiệt như Sacramento (Ở xứ vàng). Mà, đâu phải ở cái nơi hừng hực mùi tiền, tiếng cười đều bị tắt ngấm. Không, vẫn giòn giã, dù cho đôi khi nó bật lên là vì một điều ngớ ngẩn vô hại, một cái cá tính khập khiễng với số đông hay thiết thực hơn là thần vận may gõ cửa,… Nó vẫn đến, vẫn ở lại, một liều thuốc còn lành hơn leroa mà ông bác sĩ “thiên tài” “bồi bổ” cho bệnh nhân. Nơi tha hương kia sẽ thử thách lòng kiên trường của con người, dưỡng cho anh ta dày dạn, rồi cũng chính nơi gai góc đó, người ta chợt ấm lòng trước những bao bọc xa lạ, để thay vì súng đạn, người ta kết gắn nhau bằng tình người. Trái tim chân thành sẽ đơm những mầm tình cảm dịu dàng, người ta lại biết yêu thương, lại thức dậy tình yêu vô vụ lợi, tha thiết, dâng hiến hết thảy (Rows và Mary - Ở xứ vàng, Hans và Lora – Những nhầm lẫn khôi hài). Để rồi, sau bao nhiêu dông tố cuộc đời, điều khát khao sau cùng lại là tiếng gọi thân thương đầy thổn thức - tiếng gọi quê nhà (Người gác đèn biển).
Giới thiệu về tác giả
Henryk Sienkiewicz (5 tháng 5 năm 1846 - 15 tháng 11 năm 1916) sinh ra trong một gia đình quý tộc nghèo ở làng Wola Okrzejska, Ba Lan, sau cùng gia đình chuyển về Warszawa. H. Sienkiewicz là một nhà báo tài năng song chính văn chương mới đem lại danh tiếng rực rỡ, đưa ông trở thành một trong những nhà văn Ba Lan nổi tiếng nhất cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Năm 1905, ông đã được Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển trao tặng trao tặng Giải thưởng Nobel văn chương vì những cống hiến cả đời. Những tác phẩm tiêu biểu của H. Sienkiewicz có thể kể đến như: tiểu thuyết Namarne (Phí hoài, 1871), các truyện Stary sługa (Người đầy tớ già, 1875), Hania (1876), bộ ba tiểu thuyết Potop (Trận hồng thủy, 1886), Pan Wołodyjowski (Ngài Wolodyjowski, 1888), Ogniem i mieczem (Lửa và gươm, 1884), tiểu thuyết Krzyżacy (Hiệp sĩ Thập tự), tiểu thuyết Quo vadis (1896),...

Trên Sa Mạc Và Trong Rừng Thẳm
Henryk Sienkiewicz(1846 – 1916) là nhà văn xuất sắc của Ba Lan thời cận đại, đồng thời cũng là một trong những văn hào lớn của thế giới (ông được trao giải thưởng Nobel về văn học năm 1905). Các tác phẩm của ông tràn đầy tinh thần dân tộc, lòng yêu chính nghĩa và công lí, lòng nhân đạo, lên án mọi thứ bất công, mọi hình thức áp bức và bóc lột con người.
Trong di sản văn học đồ sộ của Henryk Sienkiewicz, tiểu thuyết Trên sa mạc và trong rừng thẳm chiếm một vị trí đặc biệt: Đó là tác phẩm duy nhất mà văn hào viết tặng cho các độc giả nhỏ tuổi. Tác phẩm ra đời năm 1911, ngay sau khi xuất bản đã được hoan nghênh nhiệt liệt và được dịch ra nhiều thứ tiếng. Trong suốt ba phần tư thế kỉ qua, có biết bao thanh thiếu niên đã từng ngưỡng mộ và học tập Xtas, yêu mến Nen, và vui cười với sự láu lỉnh của Cali. Tác phẩm đã khêu gợi khát vọng sống cao đẹp, ước mơ được đi tới những chân trời xa, thực hiện những kì tích phi thường, vượt qua mọi hiểm nguy, chiến thắng mọi bất công tàn ác; đồng thời tác phẩm cũng cho chúng ta góc nhìn chân thực về thế giới tự nhiên hoang dã của miền đất còn nhiều lạ lẫm: Châu Phi.
Sách kỹ năng sống, Sách nuôi dạy con, Sách tiểu sử hồi ký, Sách nữ công gia chánh, Sách học tiếng hàn, Sách thiếu nhi