
Bài này của Đàm-vô-đức bô, ngài Đàm-đế soạn bản Hán văn vào năm 254.
Trước hết, người xin thọ cụ túc giới đứng trước chư tăng mà thưa thỉnh hòa thượng rằng:
Kính bạch đại đức, xin một lòng thương tưởng đến tôi. Tôi tên là ... ... xin thỉnh đại đức làm hòa thượng. Xin đại đức vì tôi làm hòa thượng, tôi nhờ nương theo đại đức mà có thể thọ giới cụ túc. Xin đại đức lấy lòng từ bi thương xót tôi.
Thưa thỉnh như vậy ba lần. Như vị thầy nhận lời, sẽ nói là: "Tốt lắm, tôi nhận lời."
Khi ấy , chúng tăng có người muốn thọ giới lui ra, đến một chỗ chỉ có thể nhìn thấy nhưng không nghe được nơi giới đàn. Vị giới sư sẽ thưa hỏi trước đại chúng rằng:
Bạch chư đại đức, trong các vị đây, xin hỏi ai có thể vị đệ tử này mà nhận làm giáo thọ sư hay chăng ?
Vị tỳ - kheo nào trong đại chúng nhận làm giáo thõe bước ra trả lời: "Tôi có thể nhận làm."

Chuyên mục Phật pháp ứng dụng được hình thành nhằm đáp ứng nhiều thắc mắc từ độc giả gửi về cho chúng tôi, các bài đăng trong Chuyên mục Phật pháp đã nhận được sự hưởng ứng của đông đảo độc giả, ngay cả những người trước đó không nêu thắc mắc cũng vẫn học hỏi được nhiều khi đọc qua những phân tích trả lời của chúng tôi. Từ thực tế này, chúng tôi quyết định chính thức xuất bản một số các bài đã đăng nhằm phục vụ việc lưu hành rộng rãi hơn.
Ngoài ra, chúng tôi cũng chọn đưa vào đây hai bài phản biện đã từng đăng rộng rãi trên nhiều trang mạng Phật giáo, vì nội dung các bài này đề cập và phân tích nhiều vấn đề tiếp cận, học tập Kinh điển của người Phật tử. Nội dung các phản biện này nêu lên và bác bỏ các khuynh hướng sai lầm trong khi đọc hiểu Kinh điển và đặt niềm tin, vì thế nên có giá trị cũng cố niềm tin chân chánh cho bất kỳ người Phật tử nào.
Nhìn theo một khía cạnh khác, chính những dữ kiện có thật trong bài tranh biện này sẽ giúp độc giả thấy được một các sinh động những khuynh hướng sai lầm cần tránh, bởi chúng hoàn toàn có thật và đã nảy sinh trong thực tế chứ không phải do tưởng tượng chủ quan của người viết.
Hy vọng việc xuất bản sách này sẽ mang đến thêm một phương tiện học hỏi Giáo pháp cho nhiều người. Đó chính là niềm vui và kỳ vọng của những người thực hiện.

Đức Phật ra đời vì một đại sự nhân duyên, một mục đích duy nhất là cứu khổ ban vui cho tất cả chúng sinh, hay nói một cách cụ thể hơn là chỉ bày cho nhân loại con đường thoát khổ. Con đường thoát khổ đó bao gồm nhiều phương tiện khác nhau để có thể thích hợp với mọi tầng lớp, mọi căn cơ khác nhau. Nhờ đó mà từ những bậc thượng căn đại trí cho đến kẻ si mê ngu muội nhất cũng đều có thể nhận được lợi lạc từ Phật pháp, chỉ cần có thể phát khởi niềm tin và kiên trì nổ lực tu tập theo đúng lời Phật dạy.
Mòi các bạn cùng đón đọc !

Vào một buổi chiều, cư sĩ Minh Huệ từ Thành Phố Cần Thơ về Tổ đình Phước Hậu trao cho tôi bản thảo quyển "Sổ tay người Cư sĩ", nhờ viết vài lời đầu sách.
Xét thấy từ ngàn xưa cho đến nay, thời nào cũng có cư sĩ hoằng dương Phật pháp, làm cho đạo giải thoát ngày càng lan rộng khắp mợi nơi như :
- Thời Phật còn tại thế ở Ấn Độ có cư sĩ Duy - ma - cật, phu nhân Thắng Man, hoàng hậu Mạt-lợi, ... giảng pháp cho người nghe, được Phật ấn chứng.
- Ở Trung Quốc có cư sĩ Chi Khiêm dịch kinh Phạn-Hán ở nước Ngô, thời Tam Quốc có cư sĩ Đinh Phúc Bảo biên soạn Phạt học đại tự điển, cư sĩ Lý Bính Nam là thầy dạy Pháp sư Tịnh Không ...
- Ở Việt Nam ta cũng có cư sĩ thiền sư Pháp Loa, cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám dịch kinh Thủ Lăng-nghieemvaf là thầy dạy Phật pháp cho Hòa thượng Thiện Hoa, Thiện Siêu, Trí Tịnh ..., cư sĩ Mai Thọ Truyền soạn Pháp Hoa Huyền Nghĩa ...
Những vị cư sĩ vừa nêu trên, toàn là những người uyên thâm Phật lý, truyền bá giáo pháp Phật-đà một thời rạng rỡ.
Nay cư sĩ Minh Huệ là một trong những vị Phật tử thuần thành, để tâm nghiên cứu kinh sách, nghe băng quý thầy giảng và thường đến chùa học hỏi với quý thầy rất nhiều năm, nên huynh có một kiến thức cơ bản về Phật pháp. Huynh này rất có lòng vì Phật phsp nên cần cù sưu tập viết nên quyển Sổ tay người cư sĩ nhằm đem lại lợi lạc cho mọi người.
Nhận thấy tập sách nhỏ bé này đóng góp những điều cơ bản thiết thực cho quý Phật tử mới vào đạo hay những Phật tử nào quy y Tam bảo đã lâu mà ít có thời gian rảnh rỗi đọc nhiều kinh sách.
Sau khi đọc qua quyển sách, tôi tùy hỷ công đức này, viết vài lời đầu sách để giới thiệu đến quý Phật tử gần xa có duyên gặp được tập sách này.

Như Lai thường nói : các pháp phát sinh là duy tâm biến hiện, tất cả nhân quả, thế gian, vi trần đều nhân cái Tâm thành có thể tính. A-Nan : như trong các thế giới, hết thảy sự vật hiện có , cả đến ngọc cỏ, lá cây, sợi dây, nút thắt, gạn xét cội gốc, đều có thể tính : dầu cho hư không cũng có tên, có tướng, huống chi cái Tâm sangsuoost thanh tịnh nhiệm mầu, làm cho hết thảy sự vật có thể tính, mà tự mình lại khoongcos thể tính ..." (Kinh Thủ Lăng Nghiêm)
Cũng trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Đức Phật nói kệ :
...
Nói cái vọng để tỏ cái nhân
Vọng, chân ấy cả hai đều vọng.
Còn không phải chân và phi chân
Làm sao có năng kiến sở kiến.
Thức ở giữa không có thật tánh
Vậy nên như mình lau gác nhau
Cột và cởi đồng một sở nhân.
Thánh và phàm không có hai đường".
..........
Mời các bạn đọc !

"Trong Phật giáo không có điều kỳ diệu. Nhưng vào thời Đức Phật, vẫn có những nhân vật mà cuộc đời của họ thú vị hơn là điều hoang tưởng hay kỳ diệu. Vì đại dương tràn đầy ngọc quí, nên lịch sử Phật giáo cũng tràn đầy những nhân vật ấn tượng và lý tưởng. Nếu chúng ta tiếp bước theo họ, việc xây dựng nhân cách chắc chắn được khôi phục cho đất nước chúng ta. Vào thời Đức Phật, có một phụ nữ tên Bhadra Kundal Kesha sống ở thành phố Rajgriha. Cha cô là người chỉ huy tất cả những thương nhân giàu có trong thành phố. Cô đã đau khổ rất nhiều vì những quyết định sai lầm của mình là đã không nghe lời cha mẹ. Cuối cùng , nhờ nương tựa và đi theo chánh pháp của Đức Phật, cô mới vượt qua được nỗi đau buồn trong cuộc đời. Phần sau sẽ kể về cuộc đời........."

SỔ TAY HỌC PHẬT - TẬP 1
1. Tổ Thế Thân tu tập 12 năm hướng về Phật Di Lặc mà không thấy được kim thân của Phật Di Lặc. Ngài chán nản bỏ động tu, đi ra ngoài. Khi nhìn thấy một con chó ghẻ nằm bên đường, ngài khởi từ tâm, định dùng lưỡi liếm những vết lở loét, giòi bọ của nó để chữa trị, thì con chó bỗng biến mất và kim thân Phật Di Lặc hiện ra rực rỡ.
(Luận văn Tiến sĩ, nghiên cứu về Đại Sư Thế Thân của Lê Mạnh Thát,
2. Một người nữ nếu có đọc một bài kệ kinh Đại Bửu Tích thì kiếp sau sẽ không làm người nữ nữa. Bửu Tràng Đà la ni có năng lực chuyển nữ thành nam.
3. Khi thành đệ tử Phật, Xá Lợi Phất 2 tuần sau chứng quả A La Hán, Mục Kiền Liên thì sau một tuần.
4. Ngài Ni Đề sau khi xuất gia, tu 4 tháng chứng A La Hán. Phật nói ông từng là Tam Tạng Pháp sư thời Phật Ca Diếp. Ông có một đệ tử chứng quả Tu Đà Hoàn mà ông không hay biết. Một hôm ông bệnh, nhờ đệ tử đổ phân, quả báo ông phải gánh chịu là 500 đời phải hốt phân.
5. Một ngày nọ vua Ba Tư Nặc thỉnh Phật và chư tăng vào cung thọ trai. Trong đó có một vị tỳ kheo hơi thở có mùi thơm của hoa sen bát ngát. Vua nghi ngờ ông dùng ma thuật để quyến rũ cung nữ, nên kêu ông đi súc miệng, nhưng càng súc càng thơm. Vua thắc mắc, Phật bảo thời quá khứ vị tỳ kheo này thường tán thán công hạnh chư Phật, nên có phước báo như thế.
6. Ông Lâm ở Đài Loan phóng sanh một con rùa lớn. Ông bỏ ra rất nhiều tiền để mua nó và có khắc tên ông vì sợ người ta bắt ăn thịt. Mười sáu năm sau, con trai ông bị rơi xuống biển, sống sót nhờ con rùa ấy đưa vào bờ.
7. Kiếp trước, thiền sư Ô Sào và Bạch Cư Dị là hai người bạn đồng tu. Bạch Cư Dị hỏi:
- Nhà anh giàu không?
Ô Sào trả lời:
- Cha tôi giàu lắm, tiền không biết làm gì cho hết. Tôi thấy vậy chán quá nên đi tu.
Ô Sào hỏi lại:
- Nhà anh giàu không?
Bạch Cư Dị nói:
- Nhà tôi nghèo lắm, thiếu thốn mọi thứ nên tôi chán quá tôi đi tu. Mong sao kiếp sau tôi làm một ông quan thật giàu.
Chính tâm nguyện đó mà Ô Sào phải đầu thai theo bạn để chuyển mê khai ngộ.
Kiếp lai sinh, quả thật Bạch Cư Dị là một Quan Thị lang, một ông quan có tâm hồn thi sĩ, bạn với thơ và rượu, và ông có nhân duyên gặp lại ngài Ô Sào. Ông hỏi thiền sư, đại ý Phật Pháp là gì. Ô Sào trả lời:
Chư ác mạc tác
Chúng thiện phụng hành
Tự tịnh kỳ ý
Thị chư Phật giáo.
Quan Thị lang nói, điều đó con nít lên 3 cũng biết. Ô Sào tiếp lời, nhưng ông già 80 làm không được.
Hai người bạn, một tăng một tục, cũng là trường hợp của Tô Đông Pha và thiền sư Phật Ấn. Họ cũng có nhân duyên làm bạn bè nhiều kiếp, Và Phật Ấn cũng muốn thức tỉnh Tô Đông Pha, mong Hàn Lâm học sĩ đừng dấn bước quá sâu vào mê lộ.
Phật Ấn biết Tô có 7 người thiếp nên một hôm hỏi… mượn một. Tô Đông Pha cả cười đồng ý, sai người thiếp thứ 7 đến, dặn rằng:
Đêm đó hòa thượng sắp xếp một phòng cho cô nghỉ. Cô đinh ninh hòa thượng sẽ đến phòng mình nhưng chờ hoài không thấy, cô tò mò hé cửa xem hòa thượng đang làm gì bên ngoài, thì thấy ngài cho đốt 7 chiếc lò đỏ rực, suốt đêm bước qua bước lại 7 cái lò ấy. Sáng hôm sau cô trở về thuật lại chuyện đêm qua cho Tô Đông Pha nghe. Ông này lập tức hiểu điều ngài muốn nhắn gởi. Có 7 người thiếp như có 7 lò than hồng, người tu hành thì đã bước qua ái dục.
8. Do có “tuệ phân tích” mà có thể nói về một đề tài nói hoài không hết. Có vị tuy đã chứng A La Hán mà không có “tuệ phân tích” này.
9. Một bầy khỉ nhìn thấy Chư Tăng đảnh lễ Xá lợi Tóc và Răng của Đức Phật, khi Chư Tăng đi rồi, chúng cũng ra lạy. Kết quả là bầy khỉ được sanh thiên, 500 con khỉ sanh về Đao Lợi Thiên.
10. Trong truyện “Hạt đậu biết nhảy”, một bà mẹ dặn con trai khi sang Ấn Độ buôn bán nhớ mua về cho bà một hạt Xá lợi Phật. Nhưng anh này lần nào cũng quên. Dù bà đã tha thiết dặn đi dặn lại, nhưng anh vẫn quên. Đến khi sực nhớ, anh ta lượm một cái răng chó đem về nói dối với mẹ là Xá lợi Phật. Bà mừng rỡ, cung kính tôn trí và hằng ngày đảnh lễ. Cho tới một ngày, hạt Xá lợi giả đó cũng tỏa hào quang.
11. Tụng một đoạn kinh Pháp Cú cho đứa trẻ khóc đêm nghe:
Nếu ai biết Pháp Cú
Tự mình hộ trì giới
Xa lìa sự sát sanh
Nói thật, không nói dối
Tự bỏ điều phi nghĩa

Trong cùng một môi trường sống như nhau, có người mệnh yểu, có người thọ tới 70 - 80 tuổi trở lên. Điều này khiến nhiều người quan tâm muốn tìm hiểu tuổi thọ khác nhau của mỗi con người.
Với hy vọng giúp bạn đọc tìm hiểu về việc này, tôi mạnh dạn biên soạn cuốn sách “Dấu hiệu trường thọ trong Lý thuyết Tứ trụ Tử Bình” dựa trên Lý thuyết Tứ trụ Tử Bình. Đây là một môn khó, tuy chỉ có bốn trụ và tám chữ (còn gọi là Tứ trụ, Bát tự). Bốn trụ là: trụ năm, trụ tháng, trụ ngày, trụ giờ. Mỗi trụ có hai chữ, trên là can, dưới là chi, tổng cộng là tám chữ. Đi sâu phân tích tám chữ này sâu rộng mênh mông như biển. Cuốn sách “Uyên hải Tử Bình” (Tử Bình sâu rộng như biển) đã phần nào nói lên điều đó.
Bể học là vô cùng, kiến thức của con người là hữu hạn. Dù đã rất cố gắng trong quá trình biên soạn, cuốn sách cũng không tránh khỏi những khiếm khuyết. Kính mong nhận được sự góp ý phê bình và lượng thứ của bạn đọc.
TP. Hải Dương, Mùa xuân 2018

Y học cổ truyền được hình thành từ ngàn xưa, gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Trong một thời gian dài, đó là nền y học chính thống của đất nước. Ngày nay, y học cổ truyền là một bộ phận quan trọng của nền y tế quốc gia, được quan tâm kế thừa, phát huy và phát triển.
Thuận Hóa - Phú Xuân - Thừa Thiên Huế xưa kia từng là thủ phủ xứ Đàng Trong của chúa Nguyễn, là kinh đô cả nước thời Tây Sơn (1789-1801) và thời Nguyễn (1802-1945), là nơi đặt Thái Y Viện của nhiều triều đại, với những thành tựu về y học cổ truyền, nơi hội tụ nhiều thế hệ ngự y. Nhiều tài liệu y dược Thái Y Viện của các thời đại này, nhất là của Thái Y Viện triều Nguyễn đang còn lưu giữ trong các kho tư liệu khắp cả nước ở các thư viện nhà nước hay gia đình.
Trong những năm qua, các hoạt động sưu tầm, biên dịch và triển khai ứng dụng các bài thuốc và các phương pháp chữa bệnh, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe của y học cổ truyền Việt Nam nói chung và của Thái Y Viện nói riêng còn có nhiều hạn chế.
Do vậy, việc sưu tầm, biên dịch, ứng dụng các bài thuốc Thái Y Viện là thực hiện tốt chủ trương của Nhà nước và của Trung ương Hội Đông y Việt Nam về bảo tồn phát huy, phát triển nền y học cổ truyền đặc sắc của Thừa Thiên Huế nói riêng và của Việt Nam nói chung. Hội Đông Y Thừa Thiên Huế là nơi gắn liền sự hình thành của Châu bản, cũng là nơi có nhu cầu to lớn trong việc khai thác, phát huy giá trị y học trong Châu bản. Vì vậy để khai thác, phát huy giá trị là việc làm hết sức cần thiết và phù hợp. Và đây cũng là một phương cách hữu hiệu để tôn vinh giá trị của di sản Châu bản ngay tại nơi nó được sinh ra.
Nhằm góp phần bảo tồn, kế thừa và phát triển nền y học cổ truyền đương đại, chúng tôi tiến hành sưu tầm các tài liệu để có được các tài liệu về bài thuốc của Thái Y Viện triều Nguyễn bằng chữ Hán. Sau đó đề xuất hướng sử dụng các bài thuốc Thái Y Viện có tính khả thi, phù hợp với tình hình hiện nay.
Đối tượng nghiên cứu là các bài thuốc, các phương pháp chữa trị và bảo vệ sức khỏe theo y học cổ truyền có nguồn gốc từ Thái Y Viện trích trong Châu bản triều Nguyễn, đã tiến hành sưu tầm trên phạm vi toàn quốc. Phần lớn các tài liệu sưu tầm được ở Viện nghiên cứu Hán Nôm và Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I, Hà Nội.

"Thiền tông – căn cứ vào lịch sử hình thành và phát triển, với rất nhiều truyền thuyêt sinh động và thiền ngữ kỳ dị tuyệt vời, cộng với sự ảnh hưởng dài lâu sâu sắc đến nền văn hóa Đông phương , cùng sự xâm nhập không ngừng của nó vào nền văn hóa Tây phương hiện nay, đã tạo thành thế giới Thiền sâu xa và rộng mở.
Trong thế giới thiền ấy, có lúc như hoa đỏ liễu xanh (hoa hồng liễu lục), mắt ngang mũi dọc (Tỵ thụ nhãn hoành) rất phổ thông, rất bình thường, đôi khi như giọt tuyết trên lò lửa (Hồng lô thượng nhất điểm tuyết) thật đắc biệt, thật lạ lùng khiến mọi người vừa sợ vừa ngờ. Thiền quả là cao xa khó nắm bắt, nhưng lại gần gũi giản dị, vừa bình thường thực tế vừa siêu hình thần bí, không thể nghĩ bàn, đầy ấp những câu đố khó hiểu. Song càng khó hiểu càng gợi cho người đọc, người nghe bao niềm say mê, bao nỗi thắc mắc…
Quyển sách này được hình thành trên nền tảng Thiền Tông Đại Từ Điển do nhóm Viên Tân thực hiện, NXB Sùng Văn xuất bản năm 2010. Sở dĩ mang tên Từ điển Thiền Tông – Tân Biên vì nội dung của nó được chung tôi soạn dịch bao gồm các mục từ tác phẩm, thuật ngữ, nhất là về phần địa danh, phụ lục không chỉ của Trung hoa mà còn của Ấn Độ, Việt Nam, Nhật Bản, Cao Ly được chỉnh sửa, bổ sung hình ảnh minh họa hết sức phong phú.
Do tính đặc biệt của thuật ngữ Thiền tong trong các tác phẩm chữ Hán về Thiền học, một thuật ngữ thiền đôi khi có đến hai nghĩa trái ngược nhau tùy ngữ cảnh, và khi tra cứu trong các từ điển Hán Việt thông thường thì không có.Cũng nhằm đáp ứng nhu cầu tìm học, phiên dịch các văn bản thiền tứ Hán ngữ sang Việt ngữ của khá nhiều người nên sách này ra đời.
Nay việc phiên dịch bổ sung và hiệu đính đã hoàn tất, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu quyển sách này đến quý độc giả gần xa. Nhân đây, chúng tôi xin chân thành cảm ơn Thượng tọa Kiến Nguyệt, Đại đức Chơn Không Khai Chánh, Ni Sư Hạnh Huệ , Sư cô Đinh Quang, Tiến sĩ Đỗ Quốc Bảo, quý Phật tử Khai Thành, Tín Thiện, Vũ Hương và Diệu Phụng đã hết long giúp đỡ để hoàn thành tập sách , đồng thời cũng vô cùng tri ơn các tác giả có sách trong thư mục tham khảo. Bởi điều kiện biên dịch và khả năng của dịch giả còn có hạn, từ điển Thiền Tông – Tân Biên khó tránh khỏi những sơ suất. Với long biết ơn sâu sắc, chúng tôi mong muốn quý độc giả cao minh chỉ giáo để sách này trong lần tái bản sau được hoàng chỉnh hơn."

Cuốn ""PHƯƠNG THANG Y HỌC CỔ TRUYỀN"" có trên 10.000 phương thang của các danh y trong nước và ngoài nước.
Một phương thuốc dùng đặc trị một bệnh hoặc 2-3 bệnh, việc sắp xếp nhiều phương thuốc có tác dụng và chỉ định tương tự được xếp vào một loại bệnh hoặc hai, ba... loại bệnh được xếp vào một nhóm bệnh, tuy chưa được hoàn chỉnh, nhưng có thể giup bạn đọc tra cứu được thuận tiện.
Khi tra cứu sử dụng, người thầy thuốc có thể căn cứ vào bệnh trạng của bệnh nhân để dùng NGUYÊN BẢN của PHƯƠNG THANG hoặc GIA GIẢM (thêm, bớt) các DƯỢC VỊ và LIỀU LƯỢNG nếu thấy cần thiết.

SỔ TAY HỌC PHẬT - TẬP 2
1. Tổ Thế Thân tu tập 12 năm hướng về Phật Di Lặc mà không thấy được kim thân của Phật Di Lặc. Ngài chán nản bỏ động tu, đi ra ngoài. Khi nhìn thấy một con chó ghẻ nằm bên đường, ngài khởi từ tâm, định dùng lưỡi liếm những vết lở loét, giòi bọ của nó để chữa trị, thì con chó bỗng biến mất và kim thân Phật Di Lặc hiện ra rực rỡ.
(Luận văn Tiến sĩ, nghiên cứu về Đại Sư Thế Thân của Lê Mạnh Thát, bảo vệ tại Hoa Kỳ)
3. Khi thành đệ tử Phật, Xá Lợi Phất 2 tuần sau chứng quả A La Hán, Mục Kiền Liên thì sau một tuần.
4. Ngài Ni Đề sau khi xuất gia, tu 4 tháng chứng A La Hán. Phật nói ông từng là Tam Tạng Pháp sư thời Phật Ca Diếp. Ông có một đệ tử chứng quả Tu Đà Hoàn mà ông không hay biết. Một hôm ông bệnh, nhờ đệ tử đổ phân, quả báo ông phải gánh chịu là 500 đời phải hốt phân.
6. Ông Lâm ở Đài Loan phóng sanh một con rùa lớn. Ông bỏ ra rất nhiều tiền để mua nó và có khắc tên ông vì sợ người ta bắt ăn thịt. Mười sáu năm sau, con trai ông bị rơi xuống biển, sống sót nhờ con rùa ấy đưa vào bờ.
7. Kiếp trước, thiền sư Ô Sào và Bạch Cư Dị là hai người bạn đồng tu. Bạch Cư Dị hỏi:
- Nhà anh giàu không?
Ô Sào trả lời:
- Cha tôi giàu lắm, tiền không biết làm gì cho hết. Tôi thấy vậy chán quá nên đi tu.
Ô Sào hỏi lại:
- Nhà anh giàu không?
Bạch Cư Dị nói:
- Nhà tôi nghèo lắm, thiếu thốn mọi thứ nên tôi chán quá tôi đi tu. Mong sao kiếp sau tôi làm một ông quan thật giàu.
Chính tâm nguyện đó mà Ô Sào phải đầu thai theo bạn để chuyển mê khai ngộ.
Kiếp lai sinh, quả thật Bạch Cư Dị là một Quan Thị lang, một ông quan có tâm hồn thi sĩ, bạn với thơ và rượu, và ông có nhân duyên gặp lại ngài Ô Sào. Ông hỏi thiền sư, đại ý Phật Pháp là gì. Ô Sào trả lời:
Chư ác mạc tác
Chúng thiện phụng hành
Tự tịnh kỳ ý
Thị chư Phật giáo.
Quan Thị lang nói, điều đó con nít lên 3 cũng biết. Ô Sào tiếp lời, nhưng ông già 80 làm không được.
Hai người bạn, một tăng một tục, cũng là trường hợp của Tô Đông Pha và thiền sư Phật Ấn. Họ cũng có nhân duyên làm bạn bè nhiều kiếp, Và Phật Ấn cũng muốn thức tỉnh Tô Đông Pha, mong Hàn Lâm học sĩ đừng dấn bước quá sâu vào mê lộ.
Phật Ấn biết Tô có 7 người thiếp nên một hôm hỏi… mượn một. Tô Đông Pha cả cười đồng ý, sai người thiếp thứ 7 đến, dặn rằng:
Đêm đó hòa thượng sắp xếp một phòng cho cô nghỉ. Cô đinh ninh hòa thượng sẽ đến phòng mình nhưng chờ hoài không thấy, cô tò mò hé cửa xem hòa thượng đang làm gì bên ngoài, thì thấy ngài cho đốt 7 chiếc lò đỏ rực, suốt đêm bước qua bước lại 7 cái lò ấy. Sáng hôm sau cô trở về thuật lại chuyện đêm qua cho Tô Đông Pha nghe. Ông này lập tức hiểu điều ngài muốn nhắn gởi. Có 7 người thiếp như có 7 lò than hồng, người tu hành thì đã bước qua ái dục.
8. Do có “tuệ phân tích” mà có thể nói về một đề tài nói hoài không hết. Có vị tuy đã chứng A La Hán mà không có “tuệ phân tích” này.
9. Một bầy khỉ nhìn thấy Chư Tăng đảnh lễ Xá lợi Tóc và Răng của Đức Phật, khi Chư Tăng đi rồi, chúng cũng ra lạy. Kết quả là bầy khỉ được sanh thiên, 500 con khỉ sanh về Đao Lợi Thiên.
10. Trong truyện “Hạt đậu biết nhảy”, một bà mẹ dặn con trai khi sang Ấn Độ buôn bán nhớ mua về cho bà một hạt Xá lợi Phật. Nhưng anh này lần nào cũng quên. Dù bà đã tha thiết dặn đi dặn lại, nhưng anh vẫn quên. Đến khi sực nhớ, anh ta lượm một cái răng chó đem về nói dối với mẹ là Xá lợi Phật. Bà mừng rỡ, cung kính tôn trí và hằng ngày đảnh lễ. Cho tới một ngày, hạt Xá lợi giả đó cũng tỏa hào quang.
11. Tụng một đoạn kinh Pháp Cú cho đứa trẻ khóc đêm nghe:
Nếu ai biết Pháp Cú
Tự mình hộ trì giới
Xa lìa sự sát sanh
Nói thật, không nói dối
Tự bỏ điều phi nghĩa

SỔ TAY HỌC PHẬT - TẬP 3
1. Tổ Thế Thân tu tập 12 năm hướng về Phật Di Lặc mà không thấy được kim thân của Phật Di Lặc. Ngài chán nản bỏ động tu, đi ra ngoài. Khi nhìn thấy một con chó ghẻ nằm bên đường, ngài khởi từ tâm, định dùng lưỡi liếm những vết lở loét, giòi bọ của nó để chữa trị, thì con chó bỗng biến mất và kim thân Phật Di Lặc hiện ra rực rỡ.
(Luận văn Tiến sĩ, nghiên cứu về Đại Sư Thế Thân của Lê Mạnh Thát, bảo vệ tại Hoa Kỳ)
3. Khi thành đệ tử Phật, Xá Lợi Phất 2 tuần sau chứng quả A La Hán, Mục Kiền Liên thì sau một tuần.
5. Một ngày nọ vua Ba Tư Nặc thỉnh Phật và chư tăng vào cung thọ trai. Trong đó có một vị tỳ kheo hơi thở có mùi thơm của hoa sen bát ngát. Vua nghi ngờ ông dùng ma thuật để quyến rũ cung nữ, nên kêu ông đi súc miệng, nhưng càng súc càng thơm. Vua thắc mắc, Phật bảo thời quá khứ vị tỳ kheo này thường tán thán công hạnh chư Phật, nên có phước báo như thế.
6. Ông Lâm ở Đài Loan phóng sanh một con rùa lớn. Ông bỏ ra rất nhiều tiền để mua nó và có khắc tên ông vì sợ người ta bắt ăn thịt. Mười sáu năm sau, con trai ông bị rơi xuống biển, sống sót nhờ con rùa ấy đưa vào bờ.
7. Kiếp trước, thiền sư Ô Sào và Bạch Cư Dị là hai người bạn đồng tu. Bạch Cư Dị hỏi:
- Nhà anh giàu không?
Ô Sào trả lời:
- Cha tôi giàu lắm, tiền không biết làm gì cho hết. Tôi thấy vậy chán quá nên đi tu.
Ô Sào hỏi lại:
- Nhà anh giàu không?
Bạch Cư Dị nói:
- Nhà tôi nghèo lắm, thiếu thốn mọi thứ nên tôi chán quá tôi đi tu. Mong sao kiếp sau tôi làm một ông quan thật giàu.
Chính tâm nguyện đó mà Ô Sào phải đầu thai theo bạn để chuyển mê khai ngộ.
Kiếp lai sinh, quả thật Bạch Cư Dị là một Quan Thị lang, một ông quan có tâm hồn thi sĩ, bạn với thơ và rượu, và ông có nhân duyên gặp lại ngài Ô Sào. Ông hỏi thiền sư, đại ý Phật Pháp là gì. Ô Sào trả lời:
Chư ác mạc tác
Chúng thiện phụng hành
Tự tịnh kỳ ý
Thị chư Phật giáo.
Quan Thị lang nói, điều đó con nít lên 3 cũng biết. Ô Sào tiếp lời, nhưng ông già 80 làm không được.
Hai người bạn, một tăng một tục, cũng là trường hợp của Tô Đông Pha và thiền sư Phật Ấn. Họ cũng có nhân duyên làm bạn bè nhiều kiếp, Và Phật Ấn cũng muốn thức tỉnh Tô Đông Pha, mong Hàn Lâm học sĩ đừng dấn bước quá sâu vào mê lộ.
Phật Ấn biết Tô có 7 người thiếp nên một hôm hỏi… mượn một. Tô Đông Pha cả cười đồng ý, sai người thiếp thứ 7 đến, dặn rằng:
Đêm đó hòa thượng sắp xếp một phòng cho cô nghỉ. Cô đinh ninh hòa thượng sẽ đến phòng mình nhưng chờ hoài không thấy, cô tò mò hé cửa xem hòa thượng đang làm gì bên ngoài, thì thấy ngài cho đốt 7 chiếc lò đỏ rực, suốt đêm bước qua bước lại 7 cái lò ấy. Sáng hôm sau cô trở về thuật lại chuyện đêm qua cho Tô Đông Pha nghe. Ông này lập tức hiểu điều ngài muốn nhắn gởi. Có 7 người thiếp như có 7 lò than hồng, người tu hành thì đã bước qua ái dục.
8. Do có “tuệ phân tích” mà có thể nói về một đề tài nói hoài không hết. Có vị tuy đã chứng A La Hán mà không có “tuệ phân tích” này.
9. Một bầy khỉ nhìn thấy Chư Tăng đảnh lễ Xá lợi Tóc và Răng của Đức Phật, khi Chư Tăng đi rồi, chúng cũng ra lạy. Kết quả là bầy khỉ được sanh thiên, 500 con khỉ sanh về Đao Lợi Thiên.
10. Trong truyện “Hạt đậu biết nhảy”, một bà mẹ dặn con trai khi sang Ấn Độ buôn bán nhớ mua về cho bà một hạt Xá lợi Phật. Nhưng anh này lần nào cũng quên. Dù bà đã tha thiết dặn đi dặn lại, nhưng anh vẫn quên. Đến khi sực nhớ, anh ta lượm một cái răng chó đem về nói dối với mẹ là Xá lợi Phật. Bà mừng rỡ, cung kính tôn trí và hằng ngày đảnh lễ. Cho tới một ngày, hạt Xá lợi giả đó cũng tỏa hào quang.
11. Tụng một đoạn kinh Pháp Cú cho đứa trẻ khóc đêm nghe:
Nếu ai biết Pháp Cú
Tự mình hộ trì giới
Xa lìa sự sát sanh
Nói thật, không nói dối
Tự bỏ điều phi nghĩa

"Khujjuttara có thể là một người không có ý nghĩa gì trong thế giới đạo Phật, nhưng cuộc đời cô ấy phản ánh nhiều điểm đặc trưng của Phật giáo.
Thứ nhất, tuy là một phụ nữ ở tầng lớp bần cùng nhưng lại được hoàng hậu yêu thương như con gái ruột, đó là điều nổi bậy của tầng lớp bần cùng đang tu học thời đó.
Thứ hai, cuộc đời Khujjuttara thật sự có ý nghĩa chỉ từ một sự việc nho nhỏ mà có thể dẫn đến sự thay đổi to lớn cho cuộc đời của một con người. Điều này được thể hiện nơi chính cô ta, khi được nghe lời chỉ dạy quý báu của Đức Thế Tôn.
Dẫu là phụ nữ ở tầng lớp bần cùng, Khujjuttara lại trở thành người giáo thọ cho hoàng hậu, bà chủ của cô ta. Qua đó, chúng ta học được bài học về sự bình đẳng trong cuộc đời của cô.
Nhà xuất bản Sa Myak Prakashan được ủy nhiệm trong việc xuất bản hàng ngàn câu chuyện ngắn như thế. Chúng tôi hy vọng sẽ hoàn thành mục tiêu của mình qua sự giúp đỡ và ủng hộ của quý vị độc giả và nhà văn Giác ngộ. Chúng tôi luôn quyết tâm thực hiện và kính chúc đến quý độc giả một cuộc sống tốt đẹp - an lành.
Xin chân thành cảm ơn dịch giả MOSES MICHAEL đã chuyển dịch quyển sách từ tiếng Hin - di sang Anh ngữ."

"Sách được dịch từ tác phẩm Hán văn Bách hiếu đồ thuyết của Thuật Cổ lão nhân, kể lại 100 tấm gương hiếu hạnh của người xưa. Trong số các gương hiếu hạnh này cũng bao gồm cả nhị thập tứ hiếu vốn đã quen thuộc với rất nhiều người.
Đúng như tên gọi Bách hiếu đồ thuyết, mỗi câu chuyện kể đều có kèm theo một bức vẽ minh họa sinh động. Đây là tập sách quý mang ý nghĩa giáo dục rất cao, nhất là trong một thời đại mà các giá trị vật chất đang dần dần lấn át đạo đức truyền thống. Sách đã được tái bản rất nhiều lần nhờ vào tính cách hấp dẫn và ý nghĩa sâu sắc của chúng."

Dê là một loại gia súc được nuôi nhiều ở Việt Nam, nhất là ở các vùng có đồng cỏ xấu, đồi cây sim, đồi cây mua cằn cỗi, hoặc những vùng có vách núi dựng đứng.
Dê có tên khoa học Capra hircus Linnaeus, thuộc họ Bò (Bovidae).
Ngày xưa, thịt dê được gọi là cổ nhục, đê nhục, yết nhục (theo Bản thảo cương mục), miên đương nhục (theo Trung Quốc dược học đại từ điển).

Những người theo phương pháp thực dưỡng tin rằng thực phẩm và chất lượng thực phẩm có ảnh hưởng mạnh mẽ tới sức khỏe, thể trạng, tinh thần
Khi cha mẹ đau ốm, bạn chỉ cần đến bên người, đặt tay lên một số điểm trên cơ thể cha mẹ cộng với tình yêu thương vô hạn dành cho cha mẹ, năng lượng vũ trụ sẽ lập tức tràn vào cơ thể cha mẹ làm giảm những đau nhức, làm ngủ ngon hơn, ăn ngon hơn và mau khỏe hơn

Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Kính thưa chư liên hữu gần xa, Đại Sư Ân Quang là vị Tổ thứ 13 của tịnh Độ Tông, chính là hóa than cả Đại Thế Chí Bồ Tát, Ngài đã từng chỉ dạy:
“ Không luận xuất gia, tại gia, đều phải kính trên dưới hòa, nhẫn điều người không thể nhẫn, làm việc người không thể làm, chịu thay khổ nhọc, thành tựu việc tốt cho người. Lúc tĩnh tọa thường xét lỗi mình, khi nhàn đàm đừng chê kẻ khác. Đi đứng, nằm , ngồi, ăn cơm, mặc áo, từ sang đến tối, từ tối đến sang chỉ chuyên nhất một câu niệm Phật, hoặc niệm ra tiếng, hoặc niệm thầm, không cho gián đoạn. Ngoài niệm phật ra không khởi niệm khác. Nếu như vọng niệm chợt sinh, ngay đó liền phải dứt trừ. Thường luôn luôn hổ thẹn, sám hối lỗi lầm. Dù có tu trì vẫn thấy mình khiếm khuyết, không được kiêu căng, chỉ xét lỗi mình, không vạch lỗi người, chỉ nhìn cái hay, không tìm điều dở, luôn luôn nghĩ tất cả là Bồ Tát, ta chỉ là phàm phu. Nếu y lời này dụng công tu hành, quyết định vãng sanh Tây Phương cực lạc.
Hãy nên tìm một nơi chân that tu đạo, giữu tâm khiêm sạch, chết sạch những vọng dục, tu trì Tịnh Nghiệp.
Nghĩ không còn sống lâu, cái chết có thể đến sớm tối, nào còn dám xen vô chuyện người khác.
Sanh long chân thật, phát nguyện thiết tha, chí thành, cung kính trì danh hiệu Phật, nhiếp tai lắng nghe từng câu từng chữ nối với nhau đừng sót câu nào. Thường nghe cả ngày tiếng niệm Phật của mình tâm sẽ thanh tịnh , tâm sẽ duy nhất.
Dẫu cho tâm đã tịnh, vọng bị khuất phục rồi, chớ nên sanh tâm hoan hỷ, tự khoe khoang với người khác.
Gặp bất cứa ai đều khuyên họ niệm phật, cầu sanh Tây Phương.Con người ở trong thế gian chẳng thể siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử đều là do vọng niệm gây nên.
Ngay trong lúc niệm Phật, Liền nghĩ như chính mình đã chết,được được vãng sanh, trong mỗi một niệm đều gác bỏ hết thảy tình niệm thế gian ra ngoài. Trừ một câu Phật hiệu ra, Không một niệm nào để được!…’’
Những ai chân thật thực hành theo lời dạy này thả đều đại được lợi ích chân thật, số người vãng sanh đông nhiều không thể tính đếm nổi.
Tập chuyện vãng sanh tập 3 vừa hoàn tất, chúng tôi xin ra mắt cúng dường khắp tất cả mọi nơi. Việc làm này nếu có chút công đức nào, xin hồi hướng cho mười phương pháp giới chúng sanh, đồng sanh Tây Phương, đồng thành phật giáo.

Nhằm đáp ứng nhu cầu tu học của các thành viên, chúng tôi đã mở chuyên mục Lá thư hằng tuần để thường xuyên chia sẻ kinh nghiệm tu tập với mọi người. Bắt đầu từ đầu năm 2017, Lá thư hằng tuần đã trở thành người bạn thân thiết, thường xuyên trao đổi với thành viên về những vấn đề gần gũi và thiết thực nhất trong đời sống, nhằm giúp người Phật tử có thể vận dụng sự tu tập một cách hiệu quả và làm cho cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn, cjho chính bản thân người tu tập cũng như cho gia đình và xã hội. Lá thư hằng tuần được đều đặn gửi đếncho tất cả thành viên vào mỗi dịp cuối tuần, và tính đến nay đã duy trì không gián đoạn qua hết năm 2017. Các nội dung này được chính thức lưu hành trên website với hàng ngàn lượt xem mỗi ngày.

Lễ thọ giới Sa- Di
Nghi thức thọ giới này trích trong quyển Yết ma do ngài ĐÀm Đế, người Thiên Trúc dịch năm 254. Phần hán văn được in kèm theo để tiện đối chiếu.
Nếu như có người muốn được xuống tóc giữa chúng tăng ở nơi nào, phải thưa xin với hết thảy chúng tăng nơi ấy. Như chúng tăng chẳng hội tại một chỗ, phải đi đến từng ngườ mà chưa rõ việc xin xuống tóc.
Như chúng tăng đã hội lại đủ, phải thưa trước chúng tẳng rồi sau mới được xuống tóc. Vị thầy đỡ đầu đứng trước đại chúng mà thưa như thế này :
Kính bạch chư đại đức tăng, đệ tử đây tên là ……, đã xin với tôi là…………………. Cho được xuống tóc………….. Như đại đức tăng đây là lúc thích hợp và ưng thuận, xin nhận cho đệ tử ….. xuống tóc

Học Đạo Trong Đời là nỗ lực vận dụng lời Phật dạy vào đời sống thường ngày một cách có hệ thống, với các phần giáo lý căn bản nhất như Năm giới, như tiến trình tu tập Giới Định Tuệ, hoặc thiết thực hơn là những lợi ích của sự tu tập và áp dụng lời Phật dạy vào đời sống. Những lá thư này được viết ra trên căn bản ban đầu là sự chia sẻ hàng tuần với thành viên của cộng đồng Rộng Mở Tâm Hồn, vì thế không tránh khỏi một số những nội dung được nhắm đến trao đổi trực tiếp với các vấn đề được thành viên nêu ra cùng chúng tôi, cũng như phù hợp với các diễn tiến của thực tế đang diễn ra trong từng thời điểm.
Trong quá trình biên soạn thành sách, chúng tôi đã có một số điều chỉnh thích hợp, nhưng đôi khi những tính chất cá biệt của một số vấn đề có thể vẫn cần được nhận hiểu trong bối cảnh cụ thể đã phát sinh vấn đề đó. Dù vậy, khi nhìn từ một góc độ khác thì chính những yếu tố thực tiễn này sẽ tạo ra tính sinh động và thiết thực cho những vấn đề được trình bày trong sách. Do đó, chúng tôi quyết định vẫn giữu lại thay vì lược bỏ chúng đi. Mong rằng độc giả sẽ xem những yếu tố thực tiễn này như những ví dụ minh họa sống động cho các vấn đề đang được đề cập đến.

Ăn Kiêng Dưỡng Sinh Và Đặt Tay Chữa Bệnh
Đặt tay chữa bệnh là phương pháp chữa bệnh độc đáo và dễ áp dụng. Mọi người đều có thể học. Bàn tay có năng lực chữa bệnh đã được con người phát hiện và sử dụng khả năng tự nhiên này từ lâu đời. Từ hàng ngàn năm trước, thuật châm cứu và xoa bóp đã phát triển ở Trung Quốc và Nhật Bản, đặt cơ sở trên sự hiểu biết về dòng năng lượng trong cơ thể con người và sự hấp thu năng lượng từ Trời và Đất.
Nội dung sách giúp người đọc hiểu được thế nào là đặt tay chữa bệnh - Chúng ta là năng lượng - nền tảng của việc đặt tay chữa bệnh - Trình tự đặt tay chữa bệnh - Sử dụng các luân xa để chữa bệnh - Sử dụng hệ kinh mạch và huyệt đạo để chữa trị - Đặt tay chữa trị các cơ quan nội tạng và chăm sóc toàn diện các cơ quan chính yếu của cơ thể...
Sách viết đơn giản, dễ hiểu kèm nhiều đồ hình và ảnh minh họa rất thú vị.

Châm Cứu Giáp Ất Kinh (Tập 2)
Châm Cứu Giáp Ất Kinh nói môm na là Châm cứu ABC, Châm cứu bước đầu là bộ sách thuộc loại kinh điển do nhà châm cứu học Hoàng Phủ Mật hồi thế kỷ thứ 3 biên soạn. Đây là một bộ sách chuyên ngành đầu tiên viết về môn châm cứu học có hệ thống thời xưa truyền lại đến ngày nay.
Hoàng Phủ Mật sinh năm 215, mất năm 282, người Triều Nã, An Định (nay ở vùng phía Tây Nam huyện Linh Đài, tỉnh Cam Túc, Trung Quốc) vốn không phải là người làm nghề y, nhưng ông thấy lúc bấy giờ bệnh dịch hoành hành khắp nơi, và đến tuổi trung niên ông lại mắc bệnh Phong tý (giống như bệnh thấp khớp hiện nay), vì bị cơn bệnh giày vò đau khổ, nên ông quyết tâm nghiên cứu y học, nhất là học tập môn châm cứu. Ông đã tổng kết những thành tựu của châm cứu học từ hơn 200 trước công nguyên đến hơn 200 năm sau công nguyên, chọn lọc các chương bàn luận về châm cứu trong Nội kinh rồi chỉnh lý lại một cách có hệ thống.
Hơn nữa ông đã tham khảo các huyệt vị theo từng bộ phận đầu, mặt, ngực, bụng, lưng, và phương pháp chữa các thứ bệnh bằng châm cứu trong bộ Minh đường khổng huyệt châm cứu trị yếu kết hợp với kinh nghiệm thực tế chữa bệnh bằng châm cứu của mình, biên soạn xong bộ Châm Cứu Giáp Ất Kinh vào năm 265.
Trong bộ Châm Cứu Giáp Ất Kinh, Hoàng Phủ Mật đã xác định 349 tên huyệt châm cứu, trong đó có nhiều tên huyệt chưa hề thấy trong Nội kinh. Theo vị trí và kinh lạc khác nhau trên cơ thể con người, bộ sách này đã viết rõ tác dụng điều trị của chủ yếu của các huyệt, bàn về lý luận châm cứu cùng các loại bệnh có thể chữa bằng châm cứu, phương pháp thao tác và những điều cấm kỵ v.v...
Bộ Châm Cứu Giáp Ất Kinh được dịch ra tiếng Việt và gồm có 2 tập.

Quyết Địa Tinh Thư - Bình Dương Địa Lý Đại Toàn
Pháp xem Địa lý ở đất Bình dương đã có từ xa xưa, thời Quách Cảnh Thuần đã có CửuChương, Dương Quân Tùng có Biến Địa Kiềm, Họ Tạ có Thủy kiềm, Tiêu Khách cóThủy Long.
Đến thời nhà Minh có Tưởng Bình Giai Tự là Tưởng Đại Hồng viết “ THủy Long Kinh “ông người Tùng Giang, Thượng hải, học vấn uyên thâm, thường làm thơ văn mang phongcách nghĩa hiệp…..
Sách gồm
2 – Phần tự nói về âm dương, ngũ hành, nạp giáp, cửu vận…..
Trời khai, đất trải sơn xuyên
Thẳm sâu họa phúc, Thánh Hiền rõ phân.
Ai người ! Xuất hóa nhập thần.
Càn khôn quảy gánh, dẫm chân hải hồ.
Tầm long, tróc mạch tinh thô.
Cẩm thư, Gia Bảo, Dư đồ mấy pho.
Bao phen trăn trở đắn đo.
Huyền cơ chép lại, dặn dò hậu nhân.
Tuệ Minh

Nội dung sách gồm các phần:
Phần 1. PHƯƠNG PHÁP OHSAWA LÀ GÌ?
Phần 2. NHỮNG BƯỚC ĐẦU TIÊN
Phần 3. PP. 0HSAWA VỔ CÙNG CẨN THIẾT CHO NHỮNG AI?
Phần 4. TẠI SAO NHIÉU NGƯỜI KHÔNG MẶN MÀ VỚI PHƯƠNG PHÁP OHSAWA
Phần 5. TRẢ LỜI CHO MỘT SỐ CÁC BỆNH ĐIỂN HÌNH THEO PP.OHSAWA
Phần 6. MỤC TIÊU CUỐI CÙNG
Phần 7. BẢNG KIỂM SOÁT SỨC KHỎE

Trong thế gian có những lời nói trở thành danh ngôn lưu truyền muôn thủa. Đó là những gì được chắt lọc từ một số tư duy trừu tượng, chưa hản là chân lý tuyệt đối nhưng đã thắm đượm tinh thần xây dựng nếp sống lành mạnh cho xã hội. Thận là điều đáng khích lệ.
Đối với đạo Phật, một Tôn giáo tôn sùng đức hạnh chân thật, vượt ngoài thường tình của thế gian, chân trời giải thoát là lý tưởng chun g cho bất cứ ai có ttam hướng về miền đất tự tại, đã có biết bao thế kỷ đi qua rồi ghi chép lại thành một kho tàng Kinh Điển khổng lồ cho hậu thế nương theo.

Quyết Địa Tinh Thư - Điểm Huyệt Bộ 2
Chương I- ĐIỂM HUYỆT CĂN BẢN
1. Huyệt pháp khái thuyết
2. Huyệt Tinh
3. Huyệt trường
4. Huyệt pháp
5. Huyệt vựng
6. Định huyệt
7. Chứng huyệt
8. Hạ thủ cần biết
9. Chính hình chính tượng pháp
Chương II- TẠO TÁC PHÁP
Chương III- ĐIỂM HUYỆT CHÂN TRUYỀN
Chương IV- HÌNH PHÁP MÔN
1. Kỳ hình khái huyệt
2. Hát hình thủ tượng pháp

Bí Quyết Học Bài Mau Thuộc
Rất nhiều bạn cứ than thở rằng “sao mình học mãi vẫn không thuộc bài” và đôi khi vào phòng thi hồi hộp quá nên “chẳng nhớ gì”. Để học tập đạt kết quả cao, bên cạnh trí thông minh, sự chăm chỉ, chịu khó thì những kỹ năng cũng đóng một vai trò rất quan trọng. Mỗi một môn học yêu cầu những kỹ năng khác nhau, nhưng đối với tất cả các môn học, đặc biệt là những môn học xã hội điển hình như văn, sử, địa,… thì kỹ năng để học bài sao cho nhanh thuộc mà nhớ lâu đóng một vai trò quan trọng.

Những Câu Thông Dụng Trong Đàm Thoại Tiếng Anh (Tái Bản)
Đây là quyển thứ hai trong bộ sách "Muốn mau Biết Nói Tiếng Anh" được soạn theo trình tự: Từ - Câu - Bài.
"Những Câu Thông Dụng Trong Đàm Thoại Tiếng Anh" này có trên 2.000 câu do chính người Anh hoặc người Mỹ nói. Do đó chúng diễn giải trung thực cảm quan, ý nghĩ, cách nói ngữ điệu, văn phong của người Anh hay Mỹ. Nếu bạn thuộc làu toàn bộ câu nói tgrong quyển sách này, bạn áp dụng trong đàm thoại giao tiếp, bạn sẽ không còn sợ người nghe không hiểu bạn nói gì.

Tra Cứu Thuốc Thông Dụng Và Biệt Dược - 100.000 Tên Thuốc Và Biệt Dược
Trong mấy chục năm qua, sách “Thuốc biệt dược và cách sử dụng” đã giúp cho việc sử dụng thuốc của các bạn hữu hiệu và kịp thời. Do ngày càng bổ sung nhiều loại thuốc mới, với rất nhiều biệt dược và dẫn xuất mới, sách trở nên quá tải và nặng nề, với 1.800 trang, gây nhiều bất lợi cho độc giả.
Để phù hợp với tình hình mới, cuộc Cách mạng khoa học công nghệ lần thứ tư, sách cần được cải tiến để đáp ứng yêu cầu. Sách mới đã loại bỏ những thuốc, tên thuốc không còn cần thiết, cập nhật thuốc có trên thị trường Việt Nam đến năm 2016, đồng thời chữa, sửa đổi một số chuyên khảo, với tên sách mới: “TRA CỨU THUỐC THÔNG DỤNG VÀ BIỆT DƯỢC 100.000 tên thuốc và biệt dược” Chữ “THUỐC THÔNG DỤNG” là cụm từ dịch từ Tiếng Anh “Nonproprietary Name”, có nghĩa là thuốc không còn độc quyền, là thuốc chung của nhân loại đã được công bố, đảm bảo đúng và chính xác về khoa học ngôn ngữ (gốc Latinh), cấu tạo, sử dụng, cảnh báo... cần được tuân thủ, sử dụng thường xuyên, nhất quán và thống nhất. Tên thuốc chính là những hóa dược (còn gọi là hoạt chất) để bào chế ra thuốc. Tùy thuộc vào từng nước, có thể đặt tên thuốc biệt dược của mình, có sự xét duyệt của cấp có thẩm quyền một cách chặt chẽ, kỹ càng trước khi đưa ra thị trường (không tự đăng đặt). Ví dụ: Seduxen là biệt dược của Diazepam của Hungari.
Sách “TRA CỨU THUỐC THÔNG DỤNG VÀ BIỆT DƯỢC 100.000 tên thuốc và biệt dược” sẽ loại bỏ tất cả tên thuốc tự đăng - đặt một cách tùy tiện, thiếu chuẩn mực mà tra cứu dựa vào hoạt chất là chính. Sách có ba phần chính: • Các chuyên khảo thuốc từ A đến Z. • Phụ lục chuyên khảo tổng quan các Nhóm thuốc. • Mục lục tra cứu. IV Nội dung các chuyên khảo được trình bày: tên thuốc (không phiên âm), tên khác, tên Việt Nam (nếu có); dạng thuốc; tác dụng; chỉ định; chống chỉ định và lưu ý (có tương tác và quá liều), được soạn thảo ngắn gọn và súc tích. Các chuyên khảo tổng quan với 39 đề mục là những vấn đề cốt lõi, cơ bản nhất, được tóm lược lại một cách khái quát, rất cần cho những người hành nghề y, dược và những ai cần tìm hiểu. Tra cứu sách có hai cách: theo thứ tự vần chữ cái (alphabet) hoặc tìm số trang ở mục lục. Tuy nhiên, xin được lưu ý: tra cứu dựa trên hoạt chất là chính. Vì vậy cần xem kỹ thuốc ấy mang hoạt chất gì (đã bắt buộc in trên nhãn thuốc và đơn hướng dẫn), đấy chính là thuốc cần tìm. Sử dụng thuốc là một việc khó và phải thận trọng. Để giữ gìn, tăng cường và chăm sóc sức khỏe cần dùng đến thuốc và các yếu tố nhu cầu khác để tạo nên sự hoàn hảo và hoàn toàn thoải mái về thể chất và tinh thần. Sách “TRA CỨU THUỐC THÔNG DỤNG VÀ BIỆT DƯỢC 100.000 tên thuốc và biệt dược” góp phần vào sự chăm sóc sức khỏe con người.

Sức Khỏe Những Vấn Đề Thường Gặp
Phần lớn các lời chỉ dẫn trong cuốn sách này đều cùng có mục đích giúp bạn đề phòng hay xử trí với một số bệnh thường gặp trong đời sống hàng ngày.
Làm thế nào để tránh các bệnh tim mạch.
Cách chống các hiện tượng căng thẳng thần kinh.

Thiền Quán Thực Hành
Trong những năm gần đây, có một điều rất thú vị đã diễn ra trong sự giao lưu văn hóa Đông-Tây. Phương pháp thiền tập được xuất phát từ phương Đông nhiều ngàn năm trước đây, sau khi được truyền sang phương Tây đã trở thành một phương pháp thực tập được nhiều người yêu thích, và thiền tập đã thực sự mang lại những lợi ích lớn lao cho cuộc sống hằng ngàycủa họ. Chính điều này đã tạo điều kiện sản sinh ra hàng loạt các trung tâmthiền tập tại các nước phương Tây, với nhiều bậc thầy danh tiếng đã từng sang phương Đông tham học tại các nước như Ấn Độ, Miến Điện, Tích Lan...
Sự kết hợp chiều sâu tư tưởng phương Đông với khả năng phân tích, phán đoán khoa học của phương Tây đã mang lại cho thiền tập một sắc thái mới, được thể hiện qua sự hướng dẫn thiền tập rất dễ hiểu, dễ thực hành của các vị giáo thọ người phương Tây.
Trong tập sách này, bà Sylvia Boorstein, một nữ giáo thọ danh tiếng tại Hoa Kỳ, sẽ trình bày với bạn đọc những hướng dẫn chi tiết cho một khóa thiền tập cụ thể. Hy vọng đây sẽ là một tài liệu tham khảo có giá trị cho những ai muốn tìm đến với thiền như một phương pháp thực tiễn để đạt được niềm vui trong cuộc sống.

Sách được biên soạn đầy đủ các dạng khác nhau của động từ, tất cả đều có kèm theo phiên âm quốc tế để chỉ rõ cách đọc. Ngoài ra còn có phân biệt rõ các từ cổ xưa ít dùng và các từ khác biệt giữa cách dùng của Anh, Mỹ.

Tập sách giảng giải về một bộ kinh quan trọng và đồ sộ trong Phật giáo, giúp người đọc dễ dàng hơn trong việc lĩnh hội những ý chỉ sâu xa huyền diệu được chuyển tải trong Kinh văn.

Bình Định Chân Truyền - Quyền Đồng Tử Hạ San - Cồn Tề Mi (Tập 1)
Nội dung sách gồm 3 phần:
- Phần 1: Những phần thế dùng để tự vệ trong các trường hợp khác nhau trước khi địch thủ có vũ khí hoặc không
- Phần 2: Bài Đồng Tử Hạ San
- Phần 3: Tề Mi Côn và các bài thuốc Bình Định chân truyền

Phật dạy: "Ta vì đại sư nhân duyên mà xuất hiện ở thế gian. Đại sự ấy là hướng dẫn chúng sanh trở về nơi bản giác bổn hữu. Nhưng tâm chúng sinh nào phải một, mà có vô vàn sự khác nhau, do đó pháp môn tu học cũng là vô lượng để tùy sở thích từng cá nhân mà tu tập".
Trong Phật giáo, chúng ta có thể phân làm hai phần: triết lý, nghi lễ. Mỗi chúng sanh tùy theo căn cơ, sở thích của mình để dạt đến mục đích. Hai hướng đi tuy có khác, nhưng điểm cứu cánh chỉ có một, cũng như trăm sông tuy khác nhau nhưng điểm giống nhau là đồng chảy về biển.
Đây là tập nghi thức hộ niệm người lâm chung do Hòa thượng Thích Giải An biên soạn dựa theo các nghi thức truyền thống, gồm đủ các phần nhập liệm, thành phục, tống táng, an sàng...
Ngoài các phần tụng kinh, trì chú và hộ niệm thông thường, tập nghi thức này còn có cả phần Mông Sơn thí thực khoa nghi, là một nghi thức cúng thí thực phổ biến trong đạo Phật

Bình Định Chân Truyền (Tập 2) - Song Tô Phượng Dực Quyền Tứ Hải
Từ xưa, luyện võ không chỉ là để rèn luyện thân thể, mà còn mang một ý nghĩa thiêng liêng là bảo vệ và xây dựng Tổ quốc. Luyện võ không chỉ là rèn luyện thân thể mà còn trao đổi về nhân cách và đạo đức.
Ngày nay, tuy võ thuật không còn dùng để xông pha trận mạc nhưng nó giúp cho chúng ta có sức khỏe để học tập, lao động, phục vụ cho công cuộc hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất nước. Xây dựng một xã hội văn minh, đậm đà bản sắc dân tộc.
Lão võ sư Nguyễn Văn Ngọc chưởng môn võ đường Kim Sơn biên soạn bộ sách Bình Định Chân Truyền với ý muốn cùng phục hưng, lưu truyền và phát triển một số tinh hoa của môn võ Bình Định.
Bộ sách này gồm 3 tập, giới thiệu toàn bộ chương trình luyện tập từ trình độ thấp đến cao một cách có hệ thống để cho quí độc giả dễ dàng tập luyện. Bộ sách trình bày các kỹ thuật cơ bản như thân pháp, bộ pháp, quyền pháp cho người mới bắt đầu luyện tập và một số thế tự vệ cận chiến; cùng những đòn thế nâng cao, các thế tự vệ phức tạp hơn và một số bài quyền, binh khí cao cấp.

Từ Điển Hoa - Việt Thông Dụng
Ngày nay, tiếng Hoa là ngôn ngữ giao tiếp khá thông dụng . Ở nước ta, nhu cầu giao tiếp bằng tiếng Hoa ngày càng tăng vọt.
Để học tiếng Hoa tốt, bên cạnh những sách ngữ pháp Tiếng Hoa còn cần có từ điển Hoa- Việt.
Từ Điển Hoa - Việt Thông Dụng giúp việc tự học tiếng Hoa dễ dàng và hiệu quả.
Cuốn Từ Điển Hoa - Việt Thông Dụng này gồm hơn 3000 tự và gần 15.000 mục từ nhưng là những từ thông dụng hàng ngày, tương đương với trình độ của một học sinh tốt nghiệp trung học của Trung Quốc, bao gồm đủ các vấn đề như bao gồm đủ các vấn đề như chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội mà hằng ngày hay dùng.

Cuốn sách SỐNG THIỀN đề cập đến một vấn đề không nhỏ. Qua hơn trăm trang sách, tác giả đã điểm qua một cách có hệ thống hầu hết những điều cơ bản nhất đối với những ai mới bước đầu tìm đến với thiền học. Đặc biệt, những kiến thức được trình bày ở đây không mang tính kinh viện mà là những chia sẻ rất thực tiễn được rút ra từ ngay chính sự thực hành trong đời sống.
Chính vì vậy, SỐNG THIỀN đã dễ dàng đi vào lòng người đọc. Tuy không phải là một tác phẩm nặng ký trong lãnh vực này, nhưng SỐNG THIỀN đã được bạn đọc đón nhận qua nhiều lần tái bản như một tập sách hướng dẫn vô cùng hiệu quả cho những người mới bước chân vào thiền.
Sách kỹ năng sống, Sách nuôi dạy con, Sách tiểu sử hồi ký, Sách nữ công gia chánh, Sách học tiếng hàn, Sách thiếu nhi